Môi trường

Chuỗi đảo Việt Nam - Tầm nhìn kinh tế biển

Mỗi khi xuân về trên cánh sóng mang theo niềm hứng khởi trước thềm một năm mới, nhưng với những con người mang nặng tình yêu với biển, vẫn còn bao trăn trở về chủ quyền và phát triển tiềm năng kinh tế biển trên chuỗi hơn 3000 đảo lớn nhỏ thuộc chủ quyền vùng biển Việt Nam. Và để mỗi đảo lớn nhỏ đều phát huy giá trị đúng tầm của nó, thật sự, còn nhiều việc phải bàn…

Nhiều cụm đảo ở nước ta có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển - đảo

Mỗi hòn đảo như “một cột mốc chủ quyền tự nhiên”

 

Biển nước ta có hơn 3000 đảo lớn, nhỏ với tổng diện tích khoảng 1.700 km2, trong đó có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2 (Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, Cái Bầu tỉnh Quảng Ninh và Cát Bà thành phố Hải Phòng), 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 1.400 đảo nhỏ chưa có tên.

 

Các đảo được cấu tạo bởi các thành tạo địa chất tuổi khác nhau, nên hình thù và các đặc trưng về đất, đá cũng rất khác nhau. Độc đáo nhất là quần thể đảo đá vôi bị karst hóa với các giá trị toàn cầu và quốc gia phân bố tập trung ở khu vực vịnh Bái Tử Long, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), quần đảo Cát Bà và quần đảo Long Châu (Hải Phòng)

 

Đảo là một loại hình hệ sinh thái đặc thù, chúng hợp thành cụm đảo, quần đảo và hệ thống đảo quốc gia. Điều đáng chú ý là hệ thống đảo của nước ta phân bố tự nhiên thành các tuyến, ngoài cùng là tấm bình phong” Hoàng Sa và Trường Sa. Cho nên, về ý nghĩa kinh tế có thể ví mỗi hòn đảo là “một hòn ngọc xanh” trên nền biển bạc.

 

Về mặt chủ quyền mỗi hòn đảo như “một cột mốc chủ quyền tự nhiên” của quốc gia và về mặt an ninh quốc phòng, mỗi đảo như một “chiến hạm” không thể đánh chìm.

 

Các tuyến đảo và quần đảo như vậy không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với đất nước, như: Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài khơi và đảo Bạch Long Vĩ ở vịnh Bắc Bộ, đặc biệt đảo Phú Quốc ở phía nam có thể sẽ trở thành một “Singapore” thứ 2 nếu kênh Kla được đào cắt ngang bán đảo Malay đoạn thuộc Thái Lan.

 

Nhiều cụm đảo ở nước ta có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển - đảo và dịch vụ hậu cần cho các hoạt động biển xa nói chung và cho các hoạt động khai thác biển, du lịch quốc gia nói riêng. Các cụm đảo và khu vực ven biển nước ta kết hợp tạo ra những khu vực có lợi thế địa lý rất quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng và bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển tổ quốc.

 

Các đảo/cụm đảo có lợi thế địa lý, diện tích lớn, đông dân cư như Phú Quốc, Vân Đồn, Côn Đảo, Cát Bà, Lý Sơn... có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện, hiện đại.

 

Các khu kinh tế đảo như vậy đóng vai trò như những “cực phát triển”, ảnh hưởng lan tỏa ra vùng biển xung quanh; là các “mối tiếp nối” quan trọng giữa dải ven biển và các vùng biển phía ngoài trong bình đồ tổ chức không gian biển cho phát triển kinh tế cả nước.

 

Bên cạnh các giá trị cảnh quan nổi, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, với phát triển nghề cá nói chung, nghề cá giải trí nói riêng và du lịch biển - đảo.

 

Trên đảo có các làng cá, di tích văn hoá và lịch sử thuần Việt phản ánh “văn hoá vạn chài” hay còn gọi chung là “văn hóa ứng xử biển cả”, góp phần tạo ra các giá trị du lịch nghề cá mà đến nay chưa được khai thác và phát triển theo đúng nghĩa của nó. 

 

Khai thác, sử dụng chưa tương xứng

 

Kinh tế biển đã được nói đến nhiều và và đã hình thành những chuyên ngành kinh tế riêng để nghiên cứu khai thác tiềm năng biển, nhưng nghiêm túc mà nói, đảo và khai thác, quản lý đảo theo đúng nghĩa của nó còn nhiều bất cập.

 

Trong số hơn 200 đảo lớn nhỏ con người có thể ra sinh sống và phát triển kinh tế ở nước ta, mới chỉ có 66 đảo có người sinh sống với trên 240.000 người và mật độ dân số khoảng 95 người/km2 (năm 2010), riêng đảo Lý Sơn trên 2.000 người/km2 (năm 2014).

 

Gần đây, tại Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 24/1/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt xây dựng 5 “Đảo Thanh niên” để gắn phát triển kinh tế với bảo vệ vững chắc biển đảo.

 

Trong số đó xây 3 đảo mới: Đảo Trần thuộc huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh; đảo Hòn Chuối thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; đảo Thổ Châu thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; và tiếp tục đầu tư xây dựng 2 đảo: Đảo Thanh niên Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng và đảo Thanh niên Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị.

 

Như vậy, còn khoảng 2.800 đảo nhỏ hoang sơ, không đủ điều kiện con người ra sinh sống mà chỉ thích hợp với đời sống của các loài sinh vật hoang dã khác vẫn chưa được khai thác, sử dụng và quản lý cụ thể.

 

Năm 2010, Chính phủ đã cho triển khai “Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội hệ thống đảo Việt Nam đến năm 2020” theo cách tiếp cận quy hoạch truyền thống, nên số lượng đảo nhỏ hoang sơ nói trên chưa được đề cập xứng tầm.

 

Trong quan niệm “kinh tế đảo” của thế giới, bên cạnh các đảo lớn họ rất chú trọng các đảo nhỏ, hoang sơ - rất quý cho phát triển kinh tế đảo, cho bảo vệ chủ quyền của một quốc gia.

 

Ngay cả các đảo lớn có điều kiện cho con người ra sinh sống mà khi khai thác không ưu tiên và nhấn mạnh vào lợi thế biển và vị thế của đảo trong mối quan hệ với không gian biển và đất liền thì vẫn sẽ là sai lầm trong dài hạn.

 

Dù diện tích đảo lớn, nhưng ra đảo cũng không thể lấy nông nghiệp làm định hướng chính của kinh tế đảo, nên đã đến lúc cùng với “kinh tế biển” cần tiếp tục làm rõ nội hàm “kinh tế đảo” là thế nào.

 

Nếu quan niệm đúng kinh tế đảo thì sẽ có những định hướng phát triển tốt (như các nước khác) và khi đó có lẽ hơn 2.800 hòn đảo nhỏ còn lại mới là những “hòn đảo vàng” trong mắt các nhà đầu tư lớn tầm quốc tế.

 

Bởi hiện nay, các đảo đẹp và đắt giá trên thế giới được chọn và công nhận hàng năm đều là những hòn đảo thường không có sự sống của con người, có nghĩa là, kinh tế đảo phải dựa trên các giá trị và gắn với bảo tồn thiên nhiên biển, đảo (conservation-based economy).

 

Nói cách khác, trục chính của kinh tế đảo nói chung và đặc biệt đối với các đảo nhỏ trong trường hợp của nước ta là du lịch sinh thái gắn với nghề cá giải trí và bảo vệ chủ quyền biển đảo.

 

Các hoạt động khác được xem là những dịch vụ hỗ trợ cần phát triển nhưng không phải là “mũi nhọn” trong dài hạn. Tùy thuộc lợi thế vùng miền, mỗi cụm đảo và từng đảo riêng biệt, khi quy hoạch chúng ta phải chú ý khai thác tính đặc thù, lợi thế so sánh của nó để không mắc bệnh “hội chứng” trong phát triển.

 

Cần cơ chế đặc thù, cởi mở hơn

 

Hiện nay, Chính phủ chủ trương đánh thức tiềm năng dải ven biển và hệ thống đảo ven bờ miền Trung bằng việc phát triển chuỗi đô thị gắn với cảng nước sâu. Đây là một chủ trương đúng đắn và mang tầm chiến lược, phù hợp với thực tiễn phát triển của nước ta, phát huy được các bài học về mô hình tổ chức không gian kinh tế ven biển nói trên trong bối cảnh hội nhập và chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Chuỗi đô thị ven biển gắn với cảng nước sâu và khu kinh tế với một lộ trình đầu tư hiệu quả sẽ tạo ra “nhu cầu nội vùng” cho miền trung - một khu vực còn “yếu thế” về khả năng “cung” cho kinh tế biển, nhưng lại có “lợi thế tĩnh” về tiềm năng phát triển cảng biển, gần tuyến hàng hải quốc tế và khu vực. 

 

Phù hợp với xu thế thời đại, để thực hiện các chiến lược và kế hoạch hành động tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2014-2010, trong lĩnh vực biển đảo Việt Nam phải từng bước khôn khéo chuyển từ “kinh tế biển nâu” sang “kinh tế biển xanh” dựa vào bảo tồn thiên nhiên và văn hóa biển, đảo.

 

Khi ấy, các ngành nghề mới sẽ xuất hiện, tạo ra công ăn việc làm mới cho người dân ven biển, trên các đảo, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế người dân, làm thay đổi nhận thức và hành vi cá nhân, người dân sẽ bám biển làm giàu cho gia đình, quê hương và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

 

Tuy nhiên, đến nay vẫn tồn tại tư tưởng “ỷ lại” vào các lợi thế tĩnh (tài nguyên và nguồn nhân lực có sẵn) và cách “chuyển lợi thế thành lợi ích” nhờ xuất khẩu thô các nguồn tài nguyên biển. Chế biến sâu để tăng giá trị gia tăng và tiết kiệm tài nguyên biển, bảo đảm an ninh/an toàn thực phẩm quốc gia còn chưa được chú trọng đúng mức.

 

Cho nên, bên cạnh thay đổi tư duy, nhận thức, cần đưa ra các giải pháp chính sách “nặng ký” hơn, cơ chế chính sách đặc thù mở hơn đối với biển, đảo nhằm tạo ra những lợi thế động cho một nền kinh tế biển, đảo hiệu quả và bền vững.

 

Trong đó, độ mở về thể chế, nâng cao đẳng cấp công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế biển, đảo là những việc cần ưu tiên thực hiện sớm với cách làm bài bản.

 

Phát triển kinh tế biển, đảo nhanh, mạnh, hiệu quả và bền vững chính là để khẳng định khả năng làm chủ thực tế trên những vùng biển, đảo Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

 

Đây cũng là cách tốt nhất thực hiện chủ quyền dân sự của Việt Nam trên biển, tạo điều kiện hiện diện dân sự, góp phần thực hiện một nền quốc phòng toàn dân trên biển.

 

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (monre.vn)

 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Xem nhiều nhất

Cột tin quảng cáo