An ninh mạng

“OTT xuyên biên giới đang xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vi phạm luật pháp Việt Nam”

DNVN - Hiệp hội Truyền hình trả tiền Việt Nam (VNPayTV) đã nhiều lần gửi văn bản kiến nghị cần phải có chính sách bình đẳng giữa doanh nghiệp truyền hình trong nước với các nhà cung cấp dịch vụ OTT xuyên biên giới, tránh tình trạng “bảo hộ ngược”. Ông Lê Đình Cường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VNPayTV đã trả lời phỏng vấn xoay quanh vấn đề này.

Truyền hình OTT tăng trưởng nóng: Bộ TT&TT khuyến cáo người dân cẩn trọng khi dùng OTT xuyên biên giới / Hiệp hội Truyền hình cầu cứu Thủ tướng ngăn chặn sự "bành trướng" của dịch vụ OTT xuyên biên giới

Ông Lê Đình Cường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VNPayTV đã trả lời phỏng vấn DNVN xoay quanh vấn đề này.

Ông Lê Đình Cường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VNPayTV đã trả lời phỏng vấn DNVN xoay quanh vấn đề quản lý dịch vụ truyền hình xuyên biên giới.

Theo đánh giá của ông, hiện nay cạnh tranh trên thị trường truyền hình trả tiền đang diễn ra như thế nào, khi có sự tham gia của nhiều thương hiệu truyền hình trả tiền nước ngoài vào Việt Nam? Ông thấy việc các nền tảng truyền hình OTT nước ngoài ngày càng bành trướng trên thị trường sẽ có tác động thế nào đối với doanh nghiệp truyền hình trả tiền trong nước?

Ông Lê Đình Cường: Như chúng ta đều biết thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam hình thành từ năm 2000 đến nay đã 20 năm. Từ năm 2002 đến năm 2017 thị trường truyền hình trả tiền Việt Nam đã đạt đến đỉnh về mặt số lượng người dùng, truyền hình trả tiền đã có mặt ở khắp mọi miền đất nước, kể cả những vùng sâu vùng xa. Nhưng từ cuối năm 2016 xuất hiện công nghệ truyền hình qua Internet và các hãng truyền thông, truyền hình phát thanh của nước ngoài thông qua công nghệ truyền dẫn OTT (Over The Top) cung cấp dịch vụ vào Việt Nam. Còn được gọi là truyền hình OTT xuyên biên giới, khi vào Việt Nam các OTT nước ngoài không thực hiện xin cấp phép theo quy định quản lý của Việt Nam. Dịch vụ OTT xuyên biên giới có khối lượng nội dung rất lớn, họ lại không bị giới hạn bởi nội dung nên đưa vào Việt Nam tất cả các lĩnh vực văn hóa, xã hội, phim ảnh, thể thao, giải trí.

Trong khi đó truyền hình truyền thống trả tiền trong nước hoạt động tốt trong vòng 20 năm nhưng đến lúc này công nghệ lại chưa theo kịp được. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng công nghệ ở trong nước chưa thỏa mãn được nhu cầu của người dùng. Bởi vì công nghệ OTT ưu việt hơn hẳn truyền hình cáp, vệ tinh hay IPTV ở chỗ: Ở đâu có Internet thì họ có thể thu được tín hiệu truyền hình. Đã thế nội dung của các dịch vụ nước ngoài lại phong phú, họ không phải thực hiện các quy định về kiểm duyệt, biên tập về nội dung.

Theo quy định quản lý của Việt Nam, truyền hình trong nước giả sử muốn đăng ký cung cấp dịch vụ có 72 kênh thì phải được Bộ TT&TT cấp giấy phép, trong số đó có kênh nước ngoài là phải được kiểm duyệt nội dung.

Nhưng nội dung truyền hình OTT nước ngoài toàn bộ là phim ảnh, thể thao, giải trí không xin phép, không chịu sự kiểm duyệt về nội dung. Như vậy tạo ra một sự bất bình đẳng rất lớn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Cái bất bình đẳng đầu tiên là họ không xin cấp phép và không bị kiểm duyệt nội dung, trong khi truyền hình trả tiền truyền thống trong nước gặp rất nhiều khó khăn để vượt qua hai quy định này. Thứ hai là lĩnh vực công nghệ OTT nước ngoài truyền dẫn qua Internet, chỉ sau khoảng 1 phút hoặc 30 giây thì truyền hình trực tiếp tận bên Mỹ đã có mặt ở Việt Nam rồi.

Trong khi đấy nội dung trong nước dù các doanh nghiệp có cải tiến bao nhiêu, đầu tư bao nhiêu chăng nữa cũng khó cạnh tranh nổi. Ví dụ, 5 năm trở lại đây, Đài Truyền hình Việt Nam là đơn vị sản xuất nội dung truyền hình OTT rất nhiều, nhưng cũng không thể nào so sánh được với những kho tư liệu khổng lồ như là Netflix, hay hãng truyền thông mạng xã hội Facebook. Đấy là những khó khăn rất lớn khiến các doanh nghiệp trong nước chịu thua trên sân nhà.

Các doanh nghiệp truyền hình trong nước đang rất chật vật để cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới như Netflix.

Các doanh nghiệp truyền hình trong nước đang rất chật vật để cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới như Netflix.

Cuộc cạnh tranh trên thị trường truyền hình trả tiền đang rất khốc liệt với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp nước ngoài như vậy, song có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nước ngoài không chịu tuân thủ pháp luật Việt Nam. Với vai trò là lãnh đạo Hiệp hội Truyền hình trả tiền Việt Nam ông có ý kiến thế nào?

Như tôi đã nói ở trên, yếu tố bất bình đẳng và sự cạnh tranh bất bình đẳng là ở chỗ các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp vô số các chương trình vào Việt Nam mà họ không bị kiểm duyệt về nội dung. Thêm vào đó, với sức mạnh về mặt nội dung chương trình, họ sở hữu một kho nội dung rất lớn, thứ ba nữa là họ dùng công nghệ tiên tiến hơn hẳn.

Điều đáng lo ngại nhất là họ đã không xin cấp phép thì họ không đóng thuế, không phải đóng các loại phí cho nhà nước Việt Nam. Có thể nói rằng ở đâu có Internet thì ở đó họ có thể bán được hàng, khách hàng ở đâu cũng có thể mua được dịch vụ của họ. Các doanh nghiệp OTT nước ngoài đã chiếm một lượng lớn khách hàng truyền thống của Việt Nam mà chủ yếu là khách hàng trẻ ở đô thị. Đây là phân khúc khách hàng sẵn sàng chi tiêu để xem các kênh, chương trình nội dung trực tiếp một cách nhanh nhất. Nhất là trong mảng nội dung giải trí thể thao thì các OTT nước ngoài có thế mạnh hơn nhiều cho nên họ chiếm được tỷ lệ khách hàng trẻ ở khoảng độ tuổi 35 trở xuống. Tôi dự đoán, các OTT nước ngoài có thể chiếm lĩnh tới 30% lượng khách hàng trẻ của truyền hình truyền thống. Còn với phân khúc khách hàng trung tuổi hay xem các kênh thời sự của Việt Nam thì truyền hình OTT xuyên biên giới của nước ngoài cũng không chiếm được.

Về vấn đề quản lý dịch vụ OTT xuyên biên giới sao cho bình đẳng với doanh nghiệp truyền hình trong nước, từ năm 2018 đến nay Bộ TT&TT đã có rất nhiều cuộc hội thảo bàn về việc sửa Nghị định 06 của Chính phủ, nhiều cuộc hội thảo đã được tất cả các ngành, các bộ, các hội như Hội Điện ảnh, Hiệp hội Truyền hình trả tiền, các tổ chức hội phát thanh truyền hình của Châu Á và nước ngoài cũng rất quan tâm đến lợi ích của từng đơn vị truyền hình thành viên của họ.

Cho đến giờ phút này nhu cầu bức thiết nhất để tạo ra một sân chơi công bằng hơn, là phải có những quy định phù hợp cho các doanh nghiệp truyền hình xuyên biên giới. Nghị định 06 trước đây không đề cập đến quản lý truyền hình xuyên biên giới là bởi vì thời điểm ấy chưa có công nghệ phát triển truyền hình trực tuyến như bây giờ. Nhưng mọi thứ đều phải dựa vào luật pháp, hiện các OTT xuyên biên giới họ nói là “chúng tôi làm thương mại, chúng tôi cung cấp chương trình, chúng tôi không phải làm thời sự, nên chúng tôi không có phải duyệt nội dung” và nhiều ý kiến khác nữa. Đó là những khó khăn hiện tại trong việc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước với các OTT xuyên biên giới.

Xin ông cho biết, trong bối cảnh như hiện nay, Hiệp hội Truyền hình trả tiền Việt Nam có kiến nghị gì về sửa đổi Nghị định 06 của Chính phủ, để làm sao cho thị trường truyền hình cạnh tranh công bằng và lành mạnh hơn?

Từ cuối năm 2018 đến nay, Bộ TT&TT là cơ quan chủ trì tổ chức các cuộc hội thảo cùng với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ bàn về việc sửa đổi Nghị định 06 của Chính phủ, sửa đổi tức là bổ sung những nội dung mà trước đây ban hành năm 2016 hiện giờ có nhiều bất cập. Tức là chưa có nội dung quản lý về nội dung, chương trình, giấy phép đối với truyền hình xuyên biên giới.

Ít nhất có đến 20 cuộc hội thảo chính thức của Bộ TT&TT, Hiệp hội Truyền hình trả tiền Việt Nam cũng chủ động tự tổ chức đến 5-6 hội thảo, đồng thời tham gia với tất cả trên dưới 30 cuộc hội thảo. Có cả những cuộc hội thảo do Hội Truyền thông số, Hiệp hội truyền hình trả tiền Châu Á tổ chức để bảo vệ quyền lợi cho các tổ chức cung cấp thông tin truyền thông của nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức nước ngoài họ nêu quan điểm muốn bảo đảm quyền lợi của các đơn vị truyền thông nước ngoài là: Không phải kiểm duyệt nội dung, không phải nộp phí, không phải đặt các cái máy chủ tại Việt Nam.

Trong thực tế không ít các OTT nước ngoài vi phạm các quy định quản lý nội dung của Việt Nam. Ví dụ, năm 2020 Netflix chiếu những bộ phim có nội dung xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, như là đưa lên phim bản đồ có đường lưỡi bò yêu sách của Trung Quốc chẳng hạn. Hoặc đưa những bộ phim chiến tranh Việt Nam có nội dung sai sự thật về cách mạng Việt Nam. Rồi những bộ phim có nội dung sex, hay kích động bạo lực đều là những nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam một cách trắng trợn. Nhưng khi phát hiện các sai phạm này, Bộ TT&TT chỉ có quyền yêu cầu họ gỡ và phạt hành chính, bởi vì chưa có chế tài nào để có thể cấm họ, bởi vì máy chủ cung cấp dịch vụ của họ đặt ở nước ngoài.

Việc quản lý đã tạo ra bất bình đẳng lớn giữa truyền hình trong nước và OTT xuyên biên giới. Kênh truyền hình trả tiền truyền thống đóng góp vào việc tuyên truyền tới vùng sâu vùng xa, tuyên truyền, đường lối chủ trương pháp luật của nhà nước, đóng thuế đầy đủ, chấp hành quy định của nhà nước về giấy phép, lệ phí, thực hiện các chương trình an sinh xã hội.

Trong khi đó OTT xuyên biên giới không phải thực hiện các quy định đấy. Có thể nói, OTT xuyên biên giới đang xâm phạm về mặt chủ quyền lãnh thổ, vi phạm luật pháp Việt Nam. Trong vòng 2 năm nay gây ra rất nhiều cản trở cho việc quản lý của nhà nước. Không những kinh doanh cạnh tranh bất bình đẳng mà họ lại chống đối đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước thì rõ ràng là không được phép.

Cho nên cần thiết phải sửa đổi bổ sung Nghị định 06 để có những chế tài kịp thời thì chúng ta mới có thể quản lý được thị trường truyền hình và tạo ra được một sân chơi bình đẳng hơn. Hiện có hơn 30 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước được cấp phép đều có chung một nguyện vọng là: Không phải cấm OTT xuyên biên giới nhưng yêu cầu họ phải thực hiện giống như các đơn vị truyền hình trả tiền trong nước, điều đó là điều đương nhiên rồi. Hiện các OTT xuyên biên giới cung cấp dịch vụ bất hợp pháp ở Việt Nam, giá cước dịch vụ của họ thu rất cao.

Họ có nhiều khán giả xem các chương trình chưa được kiểm duyệt trong khi giới trẻ lại xem rất nhiều. Như thế có thể thấy sự ảnh hưởng và tác động của việc không quản lý được dịch vụ xuyên biên giới rất lớn, nó tác động vào hệ giáo dục tư tưởng, chính sách pháp luật, đặc biệt là giáo dục thế hệ con người mới Việt Nam. Đấy là điều mà Hiệp hội đã nhiều lần kiến nghị suốt từ cuối năm 2018 đến nay, Hiệp hội đã gửi ít nhất khoảng 10 văn bản kiến nghị tới Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ TT&TT, các cơ quan quản lý và các cơ quan pháp luật địa phương, các hội.

Gần đây nhất thì Hiệp hội đã có văn bản chính thức gửi trực tiếp Thủ tướng Chính phủ, Ban Kinh tế Trung ương để kiến nghị, bởi vì việc quản lý dịch vụ OTT xuyên biên giới có liên quan đến vấn đề Hiệp ước WTO.

Bên phía Mỹ và đặc biệt là các hãng truyền hình của nước ngoài từ Mỹ vào Việt Nam cho rằng: “Đây là dịch vụ thương mại chứ không liên quan đến quản lý về mặt chương trình, còn nếu cần thì Bộ Tài chính đã có những quy định cho đóng thuế từ nước ngoài về, nghĩa là các OTT xuyên biên giới sẽ thực hiện đóng thuế nhưng họ không thực hiện các quy định kiểm soát khác”. Nhưng quan điểm Hiệp hội cho rằng, OTT xuyên biên giới không chịu sự kiểm soát như doanh nghiệp trong nước thì không được.

Trong kỳ họp Quốc hội diễn ra gần đây thì các Đại biểu Quốc hội đã chất vấn Bộ trưởng Bộ TT&TT về việc cần phải thay đổi hành lang pháp lý để làm sao quản lý được dịch vụ truyền hình xuyên biên giới cạnh tranh hơn và tránh thất thu thuế. Với tư cách của Hiệp hội, ông thấy những kiến nghị của Hiệp hội và các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, để tạo một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đã được ghi nhận chưa? Nếu Nghị định 06 sửa đổi được thông qua thì sẽ tạo một sân chơi như thế nào cho các doanh nghiệp truyền hình trả tiền tại Việt Nam?

Thực ra trước khi Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trả lời trên diễn đàn của Quốc hội thì Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã có cuộc họp với tất cả các Cục ,Vụ, Hiệp hội liên quan đến Nghị định 06 sửa đổi. Mời cả Hiệp hội Điện ảnh Việt Nam tham gia vào cuộc đối thoại trực tiếp do Bộ trưởng chủ trì. Sau đó, Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử đã có buổi đối thoại với các cơ quan truyền hình, truyền thông của nước ngoài trước khi trình Chính phủ ban hành Nghị định 06 sửa đổi bổ sung. Tôi cho rằng, đây là cách làm luật rất bình đẳng với các tổ chức truyền hình trả tiền trong nước và đặc biệt là đối với truyền hình nước ngoài.

Tôi thấy rằng nội dung mà Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trả lời trước Quốc hội, Bộ trưởng đã tiếp thu rất đầy đủ và rất trách nhiệm trước dư luận của xã hội, đặc biệt là trước các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình phát thanh trả tiền trong nước. Nội dung mà Bộ trưởng đã nêu tại Quốc hội là nội dung cuối cùng đã được thông tin toàn bộ đến các đơn vị dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước, nước ngoài và những đơn vị quản lý nhà nước góp ý cuối cùng trước khi Ban soạn thảo trình lên Chính phủ.

Theo tôi nội dung mới trình Chính phủ hoàn toàn phù hợp và thỏa mãn những kiến nghị của Hiệp hội Trả tiền truyền hình nói riêng, cũng như các doanh nghiệp dịch vụ truyền hình trong nước nói chung, chắc chắn sẽ có hiệu ứng tích cực khi mà Nghị định 06 sửa đổi, bổ sung được Chính phủ ban hành. Bởi vì, Nghị định mới sẽ đảm bảo tính công bằng và phù hợp với chủ trương mở cửa của Việt Nam đối với các chương trình về mặt giải trí, phim ảnh, kể cả chương trình tin tức thông tin từ nước ngoài. Đảm bảo cho người xem được thụ hưởng những thông tin một cách kịp thời, mà không bị chi phối. ảnh hưởng của tư tưởng xuyên tạc về đường lối chính sách của Nhà nước ta và ảnh hưởng đến giáo dục cho thế hệ mới.

Theo ông, các doanh nghiệp truyền hình trả tiền trong nước cần phải làm gì để cạnh tranh trong thị trường nội địa, để giữ chân được khách hàng trước những đối thủ mạnh từ nước ngoài, có thể mạnh cả về nội dung, công nghệ và mạnh về tiềm lực tài chính?

Có thể nói rằng không phải bây giờ, mà tôi đã nói rất nhiều lần đến các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước từ năm 2018 đến nay về việc cần phải thay đổi để cạnh tranh. Đặc biệt là từ tháng 4/2018 các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước, đặc biệt là những nhà cung cấp dịch vụ truyền hình lớn như: VTVcab, SCTV, VTV đã có nhiều cố gắng trong cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng truyền dẫn, hạ tầng công nghệ. Dịch vụ truyền hình trong nước đã có những tiến bộ tích cực và được người xem, khán giả cũng như là khách hàng thừa nhận. Nhưng dù sao so với năng lực tài chính, tiềm lực về nội dung chương trình, đặc biệt là kỹ thuật công nghệ truyền dẫn của các doanh nghiệp nước ngoài thì chúng ta vẫn gặp rất nhiều khó khăn.

Nhưng nếu như Nghị định 06 sửa đổi, bổ sung ra đời, các dịch vụ truyền hình nước ngoài vào Việt Nam phải thực hiện các chế độ chính sách, chế tài quản lý của nhà nước Việt Nam sẽ hạn chế được độ chênh nhau và giảm bớt thách thức, khó khăn đối với dịch vụ truyền hình trong nước đi nhiều. Các đơn vị trong nước phải tự vươn lên, truyền hình trả tiền trong nước phải rất cố gắng, đặc biệt là về nội dung. Truyền hình trong nước đã có những cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ cho nhau. VTV trong 5 năm qua đã cung cấp 50% nội dung chương trình cho dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước, đây là thành công rất lớn của VTV.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trong nước phải đặc biệt quan tâm về nội dung, kể cái nội dung sản xuất trong nước và nội dung mua từ nước ngoài về, đây là vấn đề rất lớn trong cạnh tranh. Bởi vì hiện nay chúng ta có đơn vị cung cấp nội dung từ nước ngoài về là Qnet. Nhưng nhiều nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trong nước đã chủ động mua chương trình, tự sản xuất và sáng tạo lại cũng rất nhiều. 5 năm qua truyền hình trả tiền trong nước đã có cố gắng và có hiệu quả, hiệu ứng tích cực.

Khi đã có một sân chơi bình đẳng thì phải tiếp tục nỗ lực hơn để cạnh tranh chứ không thể đòi hỏi thêm được nữa. Chúng ta đảm bảo đúng luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế thôi. Chứ chúng ta không thể nào đấu tranh để mà bảo vệ quyền lợi cho đơn vị trong nước, chỉ riêng bây giờ sửa luật để bình đẳng thôi mà các nhà cung cấp nước ngoài đã không chịu rồi.

Tôi hy vọng sau bài phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trước Quốc hội chậm nhất là đầu năm 2021, Thủ tướng Chính phủ sẽ ký và ban hành Nghị định 06 sửa đổi, bổ sung, đây là một bước rất tích cực, một bước tiến bộ với dịch vụ truyền hình trả tiền trong nước.

Xin cảm ơn ông!

Theo báo cáo của Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử, năm 2020 các đài PT-TH đã phải chật vật vượt qua đại dịch Covid-19. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo của các đài PT-TH trong năm 2020 đạt 7.250 tỉ đồng, giảm 25% so với năm 2019. Lĩnh vực truyền hình trả tiền, doanh thu của 36 doanh nghiệp đạt 8.700 tỉ đồng, tăng nhẹ (1,1%) so với cùng kỳ năm 2019. Riêng với dịch vụ OTT, 21 doanh nghiệp trong nước cung cấp dịch vụ đạt doanh thu 150 tỷ đồng, với 1,3 triệu thuê bao.

Tuy nhiên, số liệu của Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử cũng cho thấy, 5 doanh nghiệp OTT xuyên biên giới nước ngoài đã có 1 triệu thuê bao ở Việt Nam và đạt doanh thu 800 tỷ đồng trong năm 2020. Con số này cho thấy sự cạnh tranh gay gắt trong phân khúc truyền hình OTT mà ưu thế đang nghiêng hẳn về các doanh nghiệp nước ngoài.

Tại cuộc họp báo ngày 20/10/2020 của Ban chỉ đạo 389, ông Vũ Mạnh Cường, Vụ trưởng Thanh tra, kiểm tra (Tổng cục Thuế) cho biết, đang sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà Nước) để thống kê doanh thu Netflix phát sinh từ khi cung cấp dịch vụ tại Việt Nam (năm 2016 đến nay) nhằm truy thu thuế.

Tính đến đầu năm 2020, Việt Nam có hàng trăm nghìn thuê bao trả phí sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến của Netflix. Người dùng phải trả từ 180.000 VNĐ đến 260.000 VNĐ mỗi tháng để sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, Netflix chưa từng thực hiện nghĩa vụ thuế tại Việt Nam.

Theo ông Vũ Mạnh Cường, Luật An ninh mạng đã có hiệu lực nên các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh có thu nhập tại Việt Nam từ hoạt động trên mạng Internet phải lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam. Đồng thời, họ phải có nghĩa vụ chuyển cho cơ quan thuế những dữ liệu này để quản lý thuế

Thời gian tới, Tổng cục Thuế sẽ tiếp tục củng cố hành lang pháp lý, phối hợp với ngân hàng thương mại, các bộ, ngành làm sạch cơ sở dữ liệu để quản lý thuế. Đồng thời, ngành thuế cũng đẩy mạnh thanh, kiểm tra đối với các cá nhân, tổ chức đã được tuyên truyền, hỗ trợ về phương tiện kê khai nhưng vẫn không tự giác nộp thuế.


Đỗ Quyên - Lê Đỗ (thực hiện)
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Xem nhiều nhất

Cột tin quảng cáo

Có thể bạn quan tâm