Thị trường

Đón FDI công nghệ: Việt Nam không thể đi theo lối cũ

DNVN - Dòng vốn FDI đang chuyển mạnh sang công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và an ninh chuỗi cung ứng. Theo TS Phan Hữu Thắng, Việt Nam cần thay đổi cách thu hút FDI, từ chạy theo quy mô vốn sang lựa chọn những dự án giúp nâng năng lực công nghệ và doanh nghiệp trong nước.

Người nuôi chi nhiều hơn, thị trường thú cưng đổi cách bán / 60 doanh nghiệp lữ hành lớn nhất Myanmar đến Đà Nẵng

5 bẫy chiến lược khi FDI toàn cầu đổi hướng

Gần 40 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên của Việt Nam ra đời vào tháng 12/1987, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn cho tăng trưởng, việc làm, sản xuất và xuất khẩu. Vốn FDI thực hiện tăng từ 19,7 tỷ USD năm 2021 lên 27,62 tỷ USD năm 2025, mức cao nhất trong 5 năm.

Tuy nhiên, tại hội thảo khoa học quốc gia "Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển" sáng 20/8, TS Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính) cho rằng, mô hình thu hút FDI đã góp phần đưa Việt Nam phát triển trong gần bốn thập kỷ đang bộc lộ những giới hạn khi nền kinh tế thế giới chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào lao động và vốn sang dựa vào công nghệ, dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Một trong những điểm yếu mang tính cấu trúc là sự liên kết chưa thực chất giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn tham gia chuỗi cung ứng ở những khâu giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp, cung cấp nguyên liệu, trong khi khả năng tiếp cận công nghệ lõi, thiết kế và nghiên cứu phát triển (R&D) còn hạn chế.

Từ thực tiễn gần 40 năm thu hút FDI, ông Thắng chỉ ra 5 “bẫy” chiến lược Việt Nam cần tránh. Đó là tiếp tục theo đuổi FDI bằng mọi giá, kéo dài mô hình gia công giá trị gia tăng thấp. Đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực, không hình thành được ngành mũi nhọn đủ sức cạnh tranh quốc tế. Thiếu liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước khiến công nghệ cao không lan tỏa.

Phụ thuộc quá mức vào bất động sản, làm suy giảm nguồn lực dành cho sản xuất và đổi mới sáng tạo. Công nghiệp hóa nhưng thiếu nền tảng khoa học công nghệ, dẫn tới tăng quy mô nhưng chưa cải thiện tương xứng chất lượng tăng trưởng.


TS Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA).

Theo TS Phan Hữu Thắng, dòng vốn FDI toàn cầu đang chịu tác động bởi những thay đổi mang tính cấu trúc. Trong đó, trọng tâm đang chuyển từ tối ưu chi phí sang bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng. Dòng vốn dịch chuyển mạnh sang các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học và năng lượng sạch. Cùng đó, lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn thu hút.

Cần mô hình FDI chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ

Với Việt Nam, điều này đặt ra câu hỏi không còn đơn thuần là thu hút được bao nhiêu FDI mà là thu hút loại vốn nào, hấp thụ ra sao và chuyển hóa dòng vốn đó thành năng suất, năng lực công nghệ và sức mạnh của doanh nghiệp trong nước như thế nào.

TS Phan Hữu Thắng cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục lựa chọn giữa thu hút FDI bằng mọi giá và đóng cửa để tự phát triển. “Câu hỏi đặt ra, Việt Nam có thực sự vượt qua được bẫy thu nhập trung bình nếu không làm chủ được công nghệ cao? Theo tôi, câu trả lời chỉ có một hướng, đó là chỉ quốc gia nào nắm bắt được công nghệ cao, quốc gia đó mới nâng được chất lượng thực chất của nền kinh tế. Không có con đường thứ ba”, chuyên gia nói.


FDI công nghệ cao cần phải được coi là công cụ để Việt Nam xây dựng năng lực công nghệ quốc gia.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy thu hút vốn sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa của FDI.

Điểm then chốt nhất trong thiết kế chính sách là chuyển từ tư duy ưu đãi sang ràng buộc có điều kiện. Theo đó, với các dự án FDI công nghệ cao quy mô lớn, cần đặt ra ba yêu cầu gồm chuyển giao công nghệ thực chất, có lộ trình và cơ chế kiểm chứng; liên doanh, đồng đầu tư với doanh nghiệp Việt Nam để doanh nghiệp trong nước có vị trí thực sự trong chuỗi giá trị; đồng thời liên kết với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước thay vì chỉ đặt nhà máy hoặc văn phòng đại diện.

Để thực hiện, chuyên gia đề xuất phát triển hạ tầng công nghệ quốc gia, gồm trung tâm dữ liệu, cụm điện toán đám mây và năng lực tính toán; xây dựng nguồn nhân lực thông qua thu hút chuyên gia quốc tế, tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài trở về và đào tạo đội ngũ kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ mới.

Bên cạnh đó, cần tận dụng nền tảng FDI trong sản xuất để đưa công nghệ mới vào công nghiệp, logistics và nông nghiệp, qua đó nâng năng suất và tạo ra giá trị có thể đo lường trong ngắn hạn.

Về lộ trình, Chủ tịch VIPFA đề xuất triển khai theo ba giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện thể chế cho FDI công nghệ cao, thu hút các dự án hạ tầng số quy mô lớn và triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho AI, fintech.

Giai đoạn 2027-2030 mở rộng hệ sinh thái thông qua hình thành các trung tâm công nghệ chuyên biệt, thúc đẩy startup công nghệ trong nước và tăng cường R&D có liên kết thực chất với khu vực FDI.

Giai đoạn 2030-2035 hướng tới làm chủ và lan tỏa, trong đó Việt Nam có thể xuất khẩu dịch vụ công nghệ ra khu vực, làm chủ một số công nghệ lõi chiến lược và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị số toàn cầu.

Theo chuyên gia, cùng với cơ hội thu hút FDI công nghệ cao, Việt Nam cũng phải kiểm soát nguy cơ phụ thuộc công nghệ và bị “khóa chặt” vào nền tảng của một số tập đoàn công nghệ toàn cầu. Giải pháp là đa dạng hóa đối tác FDI, phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa có năng lực cạnh tranh và từng bước xây dựng năng lực công nghệ lõi.

“Gần 40 năm đã qua kể từ Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên. Việt Nam muốn đứng ở đâu trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu? Câu hỏi đó không thể chờ thêm 40 năm nữa. FDI công nghệ cao không còn là mục tiêu tự thân; đó phải là công cụ để Việt Nam xây dựng năng lực công nghệ quốc gia và bảo đảm tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới”, người đứng đầu VIPFA nhấn mạnh.

Thu An
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm