Giá nông sản ngày 10/5: Hồ tiêu duy trì vùng đỉnh, cà phê điều chỉnh giảm, thị trường lúa gạo giao dịch chậm
Mastercard hỗ trợ thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam / Giá nông sản ngày 8/5: Cà phê tăng tốc mạnh, hồ tiêu giữ đỉnh cao, gạo xuất khẩu khởi sắc trở lại

Hồ tiêu tiếp tục đứng giá cao quanh mốc 144.000 đồng/kg
Sau nhiều phiên biến động nhẹ, thị trường hồ tiêu nội địa sáng nay tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang. So với cùng kỳ nhiều năm gần đây, mặt bằng giá hiện nay vẫn được đánh giá ở mức cao nhờ nhu cầu xuất khẩu ổn định cùng tâm lý giữ hàng của nông dân.
Qua khảo sát tại các vùng sản xuất trọng điểm, Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn là hai địa phương có mức thu mua cao nhất cả nước khi cùng neo ở 144.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, giá tiêu giữ quanh ngưỡng 142.500 đồng/kg, còn Đồng Nai giao dịch ở mức 142.000 đồng/kg. Riêng Gia Lai tiếp tục là khu vực có giá thấp nhất với khoảng 140.000 đồng/kg.
Giới kinh doanh nhận định nguồn cung từ vụ thu hoạch mới hiện không còn dồi dào như giai đoạn đầu năm, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn duy trì nhu cầu gom hàng ổn định. Đây được xem là yếu tố giúp giá tiêu tiếp tục bám trụ ở vùng cao.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu nhìn chung ít có biến động đáng kể. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được giao dịch ở mức 6.955 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ở quanh mốc 6.100 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia duy trì mức 9.300 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l hiện dao động từ 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ở mức 9.164 USD/tấn, còn tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt được chào bán ở 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Đáng chú ý, Brazil đang nổi lên như một đối thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường hồ tiêu toàn cầu. Theo dữ liệu từ Comexstat, trong tháng 4/2026, quốc gia này xuất khẩu 12.738 tấn hồ tiêu, mang về 78,6 triệu USD, tăng hơn 20% về lượng và hơn 30% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Tiếp tục giữ vị trí thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Brazil, Việt Nam đã mua khoảng 4.810 tấn trong tháng 4, tương đương gần 38% tổng lượng xuất khẩu của nước này. Mặc dù sản lượng nhập khẩu từ Brazil sang Việt Nam vẫn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, nhu cầu nhập nguyên liệu phục vụ chế biến và tái xuất của doanh nghiệp trong nước vẫn duy trì ở mức cao.
Ngoài Việt Nam, nhiều thị trường khác như Senegal, Pakistan, Hà Lan và Peru cũng tăng mạnh nhập khẩu hồ tiêu Brazil. Ngược lại, xuất khẩu sang UAE sụt giảm đáng kể do tác động từ căng thẳng và gián đoạn logistics tại Trung Đông.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Brazil đã xuất khẩu 38.343 tấn hồ tiêu với kim ngạch đạt khoảng 238,7 triệu USD, tăng 14% về lượng và hơn 16% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Theo đánh giá của các chuyên gia, nguồn cung toàn cầu hiện vẫn cạnh tranh gay gắt, song nhu cầu tiêu thụ phục hồi tại nhiều thị trường lớn có thể tiếp tục hỗ trợ giá tiêu duy trì ở vùng cao trong thời gian tới.
Giá cà phê điều chỉnh giảm nhẹ, arabica phục hồi trở lại
Trái ngược với hồ tiêu, thị trường cà phê hôm nay ghi nhận diễn biến phân hóa giữa hai sàn giao dịch chủ chốt. Trên sàn London, robusta quay đầu giảm nhẹ do áp lực chốt lời sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Trong khi đó, arabica trên sàn New York phục hồi nhờ lực mua bắt đáy.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê nội địa đồng loạt giảm từ 400 - 500 đồng/kg nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 86.000 đồng/kg. Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu cả nước với khoảng 87.300 đồng/kg. Mức giá tại Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 87.100 đồng/kg, còn Lâm Đồng thấp nhất với 86.500 đồng/kg.
Theo giới thương mại, nguồn cung chưa thực sự dồi dào cùng lượng tồn kho thấp tiếp tục là yếu tố hỗ trợ giá cà phê trong nước. Nhiều nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu hiện vẫn giữ hàng thay vì đẩy mạnh bán ra thị trường.
Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 18 USD/tấn xuống còn 3.414 USD/tấn, còn hợp đồng giao tháng 9/2026 lùi về 3.302 USD/tấn.
Ở chiều ngược lại, giá arabica trên sàn New York đã phục hồi sau hai phiên giảm liên tiếp. Hợp đồng giao tháng 7/2026 tăng lên 274,15 US cent/pound, trong khi hợp đồng giao tháng 9/2026 đạt 266,3 US cent/pound.
Theo Reuters, arabica phục hồi sau khi rơi xuống vùng giá thấp nhất trong khoảng một năm rưỡi. Thị trường hiện kỳ vọng vụ mùa bội thu tại Brazil sẽ góp phần giảm áp lực thiếu hụt nguồn cung cà phê toàn cầu.
Tuy nhiên, đồng real Brazil vẫn neo ở vùng cao nhất trong hơn hai năm so với USD khiến nhiều nhà xuất khẩu nước này hạn chế bán ra. Đây tiếp tục được xem là yếu tố hỗ trợ mặt bằng giá cà phê thế giới.
Ngoài ra, lượng tồn kho trên các sàn ICE tiếp tục giảm xuống mức thấp cũng đang tạo thêm lực đỡ cho thị trường. Hiện tồn kho robusta ở mức thấp nhất khoảng 16,5 tháng, còn tồn kho arabica xuống đáy khoảng 2,5 tháng.
Bên cạnh Brazil và Việt Nam, Honduras cũng được dự báo sẽ tăng mạnh sản lượng cà phê trong niên vụ 2025 - 2026 lên khoảng 5,53 triệu bao, tăng hơn 6% so với niên vụ trước nhờ thời tiết thuận lợi và diện tích canh tác mở rộng. Dù vậy, quốc gia này vẫn phải đối mặt với nguy cơ bệnh gỉ sắt lá cà phê gia tăng.
Thị trường lúa gạo giao dịch chậm, giá biến động nhẹ
Hoạt động mua bán lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn ra chậm. Một số mặt hàng lúa tươi tăng nhẹ thêm 100 đồng/kg, trong khi giá gạo nhìn chung vẫn giữ ổn định do nguồn cung không còn quá dồi dào.
Theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hiện dao động từ 8.600 - 8.700 đồng/kg; gạo CL 555 ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg; còn Đài Thơm 8 đạt từ 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, mặt bằng giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen hiện có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, còn gạo thơm Jasmine dao động trong khoảng 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, giá bán tiếp tục đi ngang. Nếp IR 4625 tươi hiện dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp khô giữ mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, lúa OM và Đài Thơm 8 tươi đồng loạt tăng thêm 100 đồng/kg lên khoảng 6.200 - 6.300 đồng/kg. Trong khi đó, lúa OM 5451 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg, còn lúa IR 50404 ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg.
Tại các địa phương như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau, nguồn lúa tươi hiện không còn nhiều, khiến giao dịch diễn ra chậm dù giá bán vẫn giữ ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở nhiều mức giá khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine hiện được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm dao động từ 510 - 520 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan hiện được giao dịch quanh mức 396 - 400 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động từ 345 - 349 USD/tấn.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








