Giá nông sản ngày 2/5: Cà phê lao dốc, hồ tiêu neo đỉnh, gạo xuất khẩu phân hóa
Xăng dầu đồng loạt tăng giá trước nghỉ lễ 30/4 / Giá heo hơi ngày 29/4: Ổn định ở cả ba miền, giao dịch trong khoảng 63.000 - 69.000 đồng/kg
Giá cà phê giảm mạnh trên diện rộng
Tại khu vực Tây Nguyên sáng nay, giá cà phê đồng loạt giảm sâu so với phiên trước, với mức giảm phổ biến từ 1.100 - 1.300 đồng/kg, kéo mặt bằng giá chung xuống còn khoảng 86.000 - 86.500 đồng/kg.

Ghi nhận tại Lâm Đồng cho thấy mức giảm mạnh nhất lên tới 1.300 đồng/kg, đưa giá thu mua về 86.500 đồng/kg. Mặc dù giảm sâu, khu vực này vẫn giữ vị trí có giá cao nhất toàn vùng.
Cùng chiều giảm, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê đều giảm 1.200 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 86.400 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, xu hướng đi xuống được ghi nhận đồng loạt trên cả hai sàn giao dịch lớn. Tại sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 2,34% (tương đương 81 USD/tấn), xuống còn 3.361 USD/tấn; đồng thời, hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 80 USD/tấn (2,37%), còn 3.277 USD/tấn.
Ở sàn New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 7/2026 giảm 1,76% (5,15 US cent/pound), xuống mức 285,55 US cent/pound; trong khi đó, hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 1,74%, còn 275,35 US cent/pound.
Hồ tiêu đi ngang, giữ vùng giá cao
Đối với hồ tiêu trong nước, giá hôm nay tiếp tục ổn định và duy trì ở vùng cao so với nhiều tuần trước đó. Theo ghi nhận, giá tại các vùng trồng trọng điểm vẫn dao động trong khoảng 140.500 - 144.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên liền trước và cũng là mức cao nhất kể từ giữa tháng 3.
Tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk và Lâm Đồng hiện là hai địa phương dẫn đầu với cùng mức 144.000 đồng/kg.
Ở khu vực Đông Nam Bộ, giá hồ tiêu tại TP Hồ Chí Minh đạt 142.500 đồng/kg, Đồng Nai ở mức 142.000 đồng/kg, còn Gia Lai dao động quanh 140.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn gần như không có biến động mới.
Cụ thể, tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.988 USD/tấn; tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giao dịch quanh 6.100 USD/tấn; trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với mức khoảng 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu hiện dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia giữ ở mức 9.206 USD/tấn; tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 9.000 USD/tấn; còn Malaysia duy trì mức cao hơn đáng kể, lên tới 12.200 USD/tấn.
Giá lúa gạo ổn định, xuất khẩu duy trì nhiều mức
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam vẫn đang được giao dịch ở nhiều mức khác nhau.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.400 - 8.4500 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động từ 8.600 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động trong khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động từ 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động trong khoảng 10.750 - 10.090 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động từ 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động trong khoảng 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam tiếp tục duy trì nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 496 - 500 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 335 - 339 USD/tấn; còn gạo thơm 5% tấm được giao dịch trong khoảng 490 - 500 USD/tấn.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








