Giá nông sản ngày 27/4: Cà phê bật tăng mạnh, hồ tiêu giằng co, lúa gạo giữ ổn định
Giá heo hơi hôm nay 24/4: Quảng Ninh, An Giang tăng nhẹ / Ba điểm nhấn của thị trường căn hộ Đà Nẵng 2026
Giá cà phê tăng mạnh
Tại khu vực Tây Nguyên – vùng sản xuất cà phê trọng điểm, giá thu mua trong tuần qua tăng mạnh từ 2.800 – 3.000 đồng/kg, tương ứng mức tăng khoảng 3,3 – 3,6%.

Cụ thể hơn, Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 3.000 đồng/kg, đưa giá lên mức 88.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Nông (khu vực Lâm Đồng cũ) tăng 2.800 đồng/kg, đạt 88.000 đồng/kg. Riêng Lâm Đồng tăng 3.000 đồng/kg, lên khoảng 87.500 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Mặc dù giá tăng mạnh, thị trường nội địa vẫn giao dịch chậm khi bước vào kỳ nghỉ lễ dài ngày. Nông dân có xu hướng giữ hàng, trong khi doanh nghiệp chưa đẩy mạnh thu mua.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tăng ấn tượng. Trên sàn London, giá Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 đạt 3.483 USD/tấn, tăng 6,7% (tương đương 220 USD/tấn); kỳ hạn tháng 9/2026 đạt 3.403 USD/tấn, tăng 6,5%.
Ở sàn New York, giá Arabica kỳ hạn tháng 7/2026 tăng 3,7%, lên 294,9 US cent/pound, trong khi kỳ hạn khác tăng 4,5%, đạt 285,1 US cent/pound.
Chủ yếu, đà tăng mạnh của giá cà phê đến từ nguồn cung toàn cầu thắt chặt và kỳ vọng sản lượng giảm tại một số quốc gia sản xuất lớn.
Tuy nhiên, tại thị trường trong nước, tâm lý găm hàng của nông dân cùng với việc doanh nghiệp thận trọng thu mua khiến thanh khoản chưa cải thiện.
Trong ngắn hạn, giá cà phê có thể tiếp tục được hỗ trợ bởi xu hướng quốc tế, nhưng khả năng tăng mạnh thêm sẽ phụ thuộc vào dòng tiền giao dịch sau kỳ nghỉ lễ.
Giá hồ tiêu ghi nhận diễn biến trái chiều
Thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các vùng trọng điểm, với mặt bằng giá dao động 138.000 – 142.000 đồng/kg.
Đắk Lắk là địa phương có mức giá cao nhất khi tăng thêm 1.000 đồng/kg, lên 142.000 đồng/kg. Ngược lại, Gia Lai giảm mạnh nhất, mất 1.500 đồng/kg, xuống 138.000 đồng/kg.
Các địa phương khác duy trì ổn định. Đắk Nông giữ mức 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai cùng giao dịch quanh 140.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu ít biến động. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia giảm nhẹ 0,51%, xuống 7.007 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ mức 6.000 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia ổn định ở 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Indonesia giảm còn 9.231 USD/tấn, trong khi Việt Nam giữ mức 9.000 USD/tấn và Malaysia ở 12.200 USD/tấn.
Thị trường hồ tiêu đang bước vào giai đoạn tích lũy sau thu hoạch, khi nguồn cung ngắn hạn tăng lên nhưng lực cầu chưa bứt phá. Sự phân hóa giữa các địa phương phản ánh áp lực bán ra cục bộ và tâm lý chờ giá của người dân.
Trong bối cảnh xuất khẩu ổn định nhưng chưa có tín hiệu tăng mạnh, giá tiêu nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trước khi xuất hiện lực đẩy mới từ thị trường quốc tế.
Giá lúa gạo ổn định
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay ít biến động. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, giá lúa tươi OM 18 dao động 6.000 – 6.100 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.600 – 5.700 đồng/kg; IR 50404 từ 5.400 – 5.500 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở 6.000 – 6.100 đồng/kg; OM 34 khoảng 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu, IR 504 dao động 8.400 – 8.450 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.600 – 8.800 đồng/kg; OM 18 khoảng 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 – 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 dao động quanh 10.750 – 10.900 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo cơ bản ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg, gạo Jasmine và gạo thường dao động 13.000 – 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán 486 – 490 USD/tấn, gạo 5% tấm ở 490 – 500 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 336 – 340 USD/tấn.
Về tình hình xuất khẩu, trong nửa đầu tháng 4/2026, Việt Nam xuất khẩu 531.000 tấn gạo, đạt 246,4 triệu USD. Lũy kế đến ngày 15/4 đạt hơn 2,81 triệu tấn, tương ứng 1,32 tỷ USD.
Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất với 1,2 triệu tấn, trị giá 521,2 triệu USD, trong khi Trung Quốc đứng thứ hai với 334.501 tấn, đạt 167 triệu USD.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








