Giá heo hơi ngày 17/3: Miền Bắc tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg tại nhiều địa phương
Tiếp tục xả quỹ bình ổn, giữ nguyên giá xăng dầu / Giải bài toán tự chủ nguồn ethanol nội địa cho lộ trình xăng E10
Tại khu vực miền Bắc
Sau khi duy trì trạng thái đi ngang trong phiên trước đó, đến sáng 17/3, giá heo hơi tại khu vực miền Bắc đã tăng tại nhiều địa phương với mức điều chỉnh phổ biến từ 1.000 - 2.000 đồng/kg. Khảo sát cho thấy, giá heo hơi trong khu vực hiện được giao dịch trong khoảng 62.000 - 64.000 đồng/kg.

Mức giá cao nhất 64.000 đồng/kg hiện được ghi nhận tại Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên; trong khi Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cùng giao dịch quanh ngưỡng 63.000 đồng/kg. Ở chiều thấp hơn, các địa phương gồm Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai và Lai Châu đang thu mua heo hơi khoảng 62.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên
So với hôm trước, thị trường heo hơi tại miền Trung - Tây Nguyên trong ngày hôm nay nhìn chung khá ổn định và chỉ ghi nhận Thanh Hoá tăng nhẹ 1.000 đồng/kg. Kết quả khảo sát cho thấy thương lái trong khu vực hiện thu mua heo hơi với mức giá dao động từ 61.000 - 65.000 đồng/kg.
Giữ vị trí cao nhất khu vực là Lâm Đồng với mức 65.000 đồng/kg; còn Thanh Hoá, Quảng Trị, Huế, Đắk Lắk và Khánh Hoà đang cùng giao dịch quanh mức 63.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Gia Lai tiếp tục duy trì mức giá 62.000 đồng/kg, trong khi Hà Tĩnh ghi nhận mức thấp nhất khu vực là 61.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Nam
Trong ngày hôm nay, thị trường heo hơi tại miền Nam tiếp tục duy trì trạng thái ổn định khi giá thu mua tại các địa phương không xuất hiện biến động so với hôm trước. Hiện nay, giá heo hơi tại các tỉnh thành khu vực này đang dao động trong khoảng 64.000 - 66.000 đồng/kg.
Theo ghi nhận thực tế, TP HCM vẫn giữ mức cao nhất là 66.000 đồng/kg; còn Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ đang cùng giao dịch ở mức 65.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Tháp và Vĩnh Long được ghi nhận ở mức thấp hơn là 64.000 đồng/kg.
Nhìn chung, tại một số địa phương khu vực miền Bắc, thị trường heo hơi hôm nay xuất hiện xu hướng tăng nhẹ. Hiện giá heo hơi phổ biến tại miền Bắc nằm trong khoảng 62.000 - 64.000 đồng/kg, khu vực miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 61.000 - 65.000 đồng/kg, còn miền Nam tiếp tục duy trì mức cao hơn, khoảng 64.000 - 66.000 đồng/kg.
Tập trung phòng, chống dịch bệnh và tái cấu trúc ngành chăn nuôi
Theo báo Nhân dân, sáng 12/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội nghị phòng, chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững.
Thông tin công bố tại hội nghị cho biết năm 2025 sản lượng thịt heo của cả nước đạt khoảng 5,39 triệu tấn, tăng khoảng 3,9% so năm 2024. Hiện nay Việt Nam có khoảng 31 triệu con heo, hơn 500 triệu gia cầm, đàn trâu bò vượt 8 triệu con và khoảng 2,8 triệu con dê, cừu. Trong khi đó, sản lượng thịt gia cầm duy trì đà tăng trưởng ổn định, từ 1,87 triệu tấn năm 2020 lên khoảng 2,6 triệu tấn năm 2025, còn sản lượng trứng đạt hơn 21 tỷ quả.
Dù vậy, nếu xét theo bình quân đầu người thì sản lượng thịt, trứng và sữa vẫn còn ở mức thấp so với quy mô thị trường hơn 100 triệu dân cùng hàng chục triệu lượt khách quốc tế mỗi năm.
Trong năm 2025, giá gia cầm nhìn chung giữ ổn định trong khoảng 48.000 - 54.000 đồng/kg. Cùng thời điểm, giá sữa tươi nguyên liệu dao động từ 13.500 - 14.500 đồng/kg, phù hợp với xu hướng tiêu dùng các sản phẩm giàu dinh dưỡng. Đối với heo hơi, mức giá duy trì trong khoảng 60.000 - 75.000 đồng/kg, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn định hoạt động sản xuất.
Đáng chú ý, công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi trong năm 2025 đã có bước phát triển mạnh mẽ. Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi trên cả nước đạt khoảng 22 triệu tấn, tăng gần 2,9% so năm 2024. Tuy nhiên, biến động giá nguyên liệu nhập khẩu cùng tỷ giá ngoại tệ vẫn gây áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất.
Mặt khác, các nguyên liệu đầu vào chủ yếu để sản xuất thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương và lúa mì vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ thế giới. Điều này khiến giá thức ăn chăn nuôi trong nước biến động mạnh theo từng giai đoạn và gây không ít khó khăn cho người chăn nuôi.
Ở lĩnh vực chế biến, nhiều doanh nghiệp lớn đã đẩy mạnh đầu tư và mở rộng quy mô công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã xây dựng nhiều tổ hợp giết mổ, chế biến thịt và chế biến sữa quy mô công nghiệp với công nghệ hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và phục vụ thị trường xuất khẩu.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp đã hình thành chuỗi liên kết khép kín từ sản xuất con giống - thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi - giết mổ - chế biến - phân phối sản phẩm, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như ổn định thị trường.
Tuy nhiên, tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi được chế biến sâu hiện vẫn còn thấp, trong khi phần lớn thịt tiêu thụ vẫn ở dạng tươi sống. Đồng thời, hệ thống giết mổ nhỏ lẻ vẫn tồn tại phổ biến tại nhiều địa phương và chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thực phẩm và gây khó khăn cho việc truy xuất nguồn gốc.
Trong giai đoạn 2025 và 2026, ngành chăn nuôi Việt Nam được dự báo phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, trong khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, kéo theo những điều chỉnh về chính sách thương mại, thuế quan và kiểm soát chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong những năm gần đây, các chính sách thuế quan và biện pháp phòng vệ thương mại của Mỹ có xu hướng gia tăng nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Việc áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, rà soát xuất xứ cùng các quy định nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và phúc lợi động vật đã làm tăng chi phí tuân thủ đối với các nước xuất khẩu.
Song song với đó, các động thái đáp trả thương mại giữa những nền kinh tế lớn cũng tiềm ẩn nguy cơ làm gián đoạn dòng chảy thương mại nông sản, khiến giá cả biến động mạnh và gia tăng mức độ bất định của thị trường toàn cầu.
Bên cạnh các yếu tố thị trường, dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn diễn biến rất phức tạp với nhiều bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, tả heo châu Phi, lở mồm long móng và viêm da nổi cục, đặc biệt có xu hướng gia tăng trong những tháng đầu năm 2026. Trong năm 2025, cả nước ghi nhận 2.940 ổ dịch tại 34 tỉnh, thành phố với hơn 1,3 triệu con heo chết và bị tiêu huỷ, tăng 14 lần so năm 2024, trong đó đỉnh dịch rơi vào giai đoạn tháng 7 - 8 và chủ yếu xảy ra tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không bảo đảm điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học.
Tính từ đầu năm 2026 đến nay, cả nước đã xuất hiện 261 ổ dịch tại 24 tỉnh, thành phố với tổng số heo chết và tiêu huỷ là 14.702 con. So với cùng kỳ năm trước, số ổ dịch đã tăng 2,96 lần và số heo chết, huỷ tăng hơn 2 lần.
Tại hội nghị, nhiều đại biểu đã trình bày tham luận phản ánh thực trạng dịch bệnh, tình hình phát triển chăn nuôi cũng như tiêu thụ sản phẩm tại địa phương và doanh nghiệp. Đồng thời, các ý kiến cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn khi vận hành ngành thú y trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và trước những biến động của thị trường.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh các nhóm giải pháp mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung triển khai trong thời gian tới như công tác giống, quy hoạch vùng nguyên liệu, thúc đẩy khoa học công nghệ, ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi, tập trung dập tắt dịch bệnh, tăng cường kiểm soát giết mổ và chế biến, đồng thời đẩy mạnh tái cơ cấu sản phẩm.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cũng cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, địa phương và doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các khó khăn và điểm nghẽn liên quan đến quản lý, công nghệ cũng như chuỗi giá trị. Khi những vướng mắc này được xử lý hiệu quả, ngành chăn nuôi Việt Nam có thể bước sang giai đoạn phát triển mới với các mô hình sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát dịch bệnh tốt và gắn với hệ thống chế biến, tiêu thụ hiện đại.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








