Thị trường

Giá nông sản ngày 10/4: Cà phê bật tăng trở lại, hồ tiêu hạ nhiệt nhẹ, gạo giữ đà ổn định

DNVN - Trong ngày 10/4, thị trường ghi nhận xu hướng trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Giá cà phê trong nước đảo chiều tăng và phục hồi trên thị trường thế giới, còn hồ tiêu giảm nhẹ nội địa nhưng giá xuất khẩu lại cải thiện. Riêng mặt hàng gạo tiếp tục giữ trạng thái ổn định, với giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chậm.

Giá xăng dầu đồng loạt giảm, RON 92 xuống dưới 25.000 đồng/lít / Cơ hội lớn từ việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng

Giá cà phê hôm nay

Sau giai đoạn điều chỉnh trước đó, giá cà phê trong nước ngày 10/4 đã quay đầu tăng trở lại, phổ biến tăng từ 600 - 700 đồng/kg. Tại khu vực Tây Nguyên, mặt bằng giá hiện dao động trong khoảng 85.300 - 86.000 đồng/kg. Trong đó, Đắk Nông ghi nhận mức cao nhất 86.000 đồng/kg, tiếp đến là Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 85.800 đồng/kg, còn Lâm Đồng ở mức khoảng 85.300 đồng/kg.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Trên thị trường thế giới, xu hướng giá cà phê có sự phân hóa rõ rệt. Kết thúc phiên giao dịch ngày 9/4, giá robusta trên sàn London giảm nhẹ, khi hợp đồng tháng 5/2026 ở mức 3.310 USD/tấn, giảm 0,53%, còn hợp đồng tháng 7/2026 đạt 3.239 USD/tấn, giảm 0,51%. Trong khi đó, trên sàn New York, giá arabica giảm nhẹ ở kỳ hạn gần xuống 293,7 US cent/pound, nhưng lại nhích tăng ở các kỳ hạn xa.

Theo Reuters và Barchart, “kỳ vọng về một vụ mùa bội thu tại Brazil năm nay đã hạn chế dư địa tăng của thị trường, nhưng vụ thu hoạch vào tháng 5–6 sẽ là yếu tố quyết định,” công ty môi giới ADMIS cho biết.

Trong tuần này, tại Việt Nam - quốc gia sản xuất robusta hàng đầu - giá cà phê giảm nhẹ do nhu cầu yếu, bất chấp việc nông dân hạn chế bán ra. Đồng thời, chi phí vận hành máy bơm tưới tiêu gia tăng do nhiệt độ tăng và giá nhiên liệu cao hơn.

Đà giảm của giá cà phê được kìm hãm phần nào bởi sự mạnh lên của đồng real Brazil, khi đồng tiền này (USDBRL) tăng lên mức cao nhất trong 23 tháng so với USD trong ngày 9/4. Việc đồng Real tăng giá đã làm suy giảm động lực xuất khẩu của các nhà sản xuất cà phê Brazil.

Ở chiều nguồn cung, tồn kho robusta trên sàn ICE đã giảm xuống mức thấp nhất trong 1,25 năm, còn 3.982 lô tính đến ngày 9/4. Ngược lại, lượng tồn kho arabica do ICE theo dõi lại tăng lên mức cao nhất trong 6,25 tháng, đạt 585.621 bao vào ngày 18 tháng 3.

Trên quy mô toàn cầu, nguồn cung còn được bổ sung khi Indonesia bước vào vụ thu hoạch robusta.

Xét về yếu tố vĩ mô, môi trường kinh tế quốc tế tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Tâm lý né tránh rủi ro do căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông đã khiến nhà đầu tư giảm nắm giữ hàng hóa, qua đó tạo áp lực lên giá cà phê. Đồng thời, tỷ giá hối đoái cũng bị tác động khi đồng USD tăng nhẹ, yếu tố thường hỗ trợ xuất khẩu nhưng chưa đủ để giữ giá ổn định.

Tại Brazil, thị trường cà phê vật chất ghi nhận phản ứng tức thời trước biến động quốc tế. Giá nội địa arabica đã giảm tới 90 real mỗi bao do ảnh hưởng từ đà giảm chung, đồng thời khiến nông dân gia tăng xu hướng găm hàng để chờ giá tốt hơn. Đối với robusta, dù chịu áp lực giảm, tiến độ thu hoạch vẫn khiến một phần sản lượng được bán ra, nhất là khi lo ngại giá có thể tiếp tục đi xuống.

Trong tuần này, thị trường tiếp tục chịu áp lực từ sự kết hợp giữa nguồn cung tăng, vụ thu hoạch mới và môi trường bên ngoài thiên về né tránh rủi ro. Tuy nhiên, việc giá arabica tăng nhẹ phản ánh nỗ lực điều chỉnh kỹ thuật sau chuỗi giảm, còn robusta vẫn dễ chịu tác động do nguồn cung toàn cầu dồi dào hơn.

Giá hồ tiêu hôm nay

Sau chuỗi ngày duy trì ở mức cao, giá hồ tiêu trong nước ngày 10/4 đã quay đầu giảm nhẹ, phổ biến từ 500 - 1.000 đồng/kg. Hiện tại, giá tiêu tại các vùng trọng điểm dao động trong khoảng 138.000 - 139.000 đồng/kg. Cụ thể, Gia Lai và Đồng Nai cùng giảm 500 đồng/kg xuống còn 138.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, mức giảm mạnh hơn 1.000 đồng/kg, đưa giá về 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Lắk giảm xuống 139.000 đồng/kg, còn Đắk Nông giảm còn 138.500 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận diễn biến tích cực hơn khi tăng thêm 100 USD/tấn. Hiện giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn, còn tiêu trắng ở mức khoảng 9.000 USD/tấn.

Trong khi đó, giá tiêu tại các quốc gia khác nhìn chung ổn định, với tiêu đen Indonesia ở mức 7.083 USD/tấn, Brazil đạt 6.150 USD/tấn và Malaysia ở mức 9.300 USD/tấn. Đối với tiêu trắng, Muntok của Indonesia giữ mức 9.331 USD/tấn, còn Malaysia duy trì 12.200 USD/tấn.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu trên thị trường quốc tế vẫn duy trì ổn định, tạo lực đỡ cho giá xuất khẩu của Việt Nam, dù thị trường nội địa có điều chỉnh ngắn hạn.

Một điểm đáng chú ý khác là xuất khẩu hồ tiêu Brazil đang tăng trưởng mạnh. Theo số liệu từ Comexstat, trong tháng 3/2026, Brazil xuất khẩu 11.568 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 72,1 triệu USD, tăng mạnh cả về lượng và giá trị so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 3, các thị trường nhập khẩu chính của Brazil gồm Việt Nam, Ai Cập, UAE, Pakistan và Senegal. Trong đó, xuất khẩu sang Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất dù có sự sụt giảm so với trước đó. Ngược lại, các thị trường như Pakistan, Trung Đông và châu Phi lại ghi nhận mức tăng trưởng rất mạnh.

Tính chung quý I/2026, Brazil đã xuất khẩu 25.606 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 160 triệu USD, qua đó tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đáng chú ý, việc mở rộng sang nhiều thị trường mới cho thấy chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu của quốc gia này đang phát huy hiệu quả.

Điều này đồng nghĩa với việc mức độ cạnh tranh trên thị trường hồ tiêu toàn cầu ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với các nhà xuất khẩu lớn như Việt Nam.

Trong ngắn hạn, giá tiêu trong nước nhiều khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi thị trường bước vào giai đoạn điều chỉnh sau chuỗi tăng. Tuy nhiên, về dài hạn, xu hướng vẫn được hỗ trợ bởi nhu cầu tiêu thụ ổn định cùng với sự cải thiện của giá xuất khẩu.

Giá lúa gạo hôm nay

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo ngày 10/4 nhìn chung giữ ổn định, trong bối cảnh giao dịch mua bán diễn ra chậm và ít biến động.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay tăng 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 ở mức 5.800 - 6.100; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động 5.800 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Ghi nhận tại các địa phương cho thấy giao dịch mua vẫn yếu, giá ít biến động. Tại An Giang, nông dân tiếp tục neo giá cao, lượng giao dịch mới chốt còn ít và giá tương đối ổn định. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, hoạt động mua bán diễn ra chậm với mặt bằng giá ít thay đổi.

Đối với mặt hàng gạo, xu hướng đi ngang cũng được duy trì. Hiện giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, mặt bằng giá gạo vẫn đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thường ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg; gạo Nhật đạt 22.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 400 - 445 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động 330 - 334 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 433 - 437 USD/tấn.

Ở thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 339 - 373 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 350 - 354 USD/tấn. Trong khi đó tại Ấn Độ, thị trường đi ngang, với gạo 5% tấm được chào bán 335 - 339 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 283 - 287 USD/tấn.

So với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ được lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi sát biến động thị trường quốc tế, đặc biệt là chi phí logistics, chính sách dự trữ và nhập khẩu của các quốc gia lớn cũng như áp lực cạnh tranh từ các nước có nguồn cung dồi dào.

Lan Lê
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Cột tin quảng cáo

Có thể bạn quan tâm