Vượt 'thung lũng chết' trong công nghệ sinh học bằng tư duy kéo thị trường
Đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học / Ứng dụng công nghệ sinh học: Hướng đi bền vững từ tài nguyên bản địa
Bốn rào cản khi kết nối nghiên cứu với thị trường
Dù có nhiều kết quả nghiên cứu và sáng chế, công nghệ sinh học Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc đưa các sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Theo ThS Lê Thị Khánh Vân, khoảng 90% kết quả nghiên cứu chưa vượt qua được "thung lũng chết" để tìm đường ra thị trường.
ThS Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch VASTI. Ảnh: Hà Tuấn.Để vượt qua thung lũng này, dự án đòi hỏi nguồn lực vô cùng lớn về vốn đầu tư, trang thiết bị, mặt bằng sản xuất, tư vấn chuyên sâu và đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP). Do chi phí quá đắt đỏ và lộ trình hoàn thiện sản phẩm nhiều khó khăn, khoảng 90% kết quả nghiên cứu đã bị gác lại hoặc "chết" trong thung lũng, chỉ vỏn vẹn 10% có thể tiến tới thương mại hóa. Hàng nghìn kết quả nghiên cứu vẫn chưa được ứng dụng vào thực tiễn, chưa đáp ứng hoặc chưa kết nối được với nhu cầu của doanh nghiệp.
Theo ThS Lê Thị Khánh Vân, một trong những nguyên nhân của sự đứt gãy cung - cầu trong hệ sinh thái công nghệ sinh học xuất phát từ sự xung đột về tư duy và động lực giữa hai bên.
Nhà khoa học thường ưu tiên tạo ra tri thức mới, công bố quốc tế và bảo đảm tính chính xác, tính mới, tính sáng tạo của nghiên cứu. Quá trình này thường được triển khai theo các đề tài kéo dài 2-3 năm.
Trong khi đó, doanh nghiệp chú trọng lợi nhuận, thị phần, khả năng sản xuất hàng loạt và dòng tiền, đồng thời chịu áp lực phải đưa sản phẩm mới ra thị trường trong thời gian ngắn.
Chính sự khác biệt về mục tiêu và cách tiếp cận này đã tạo ra 4 rào cản chính ngăn cản việc hợp tác.
Thứ nhất là rào cản định giá tài sản trí tuệ. Giá trị công nghệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ hoàn thiện, khả năng bảo hộ, tiềm năng thương mại... Nếu chưa thể thống nhất về phương pháp định giá, dữ liệu đầu vào và cách phân chia lợi ích từ chuyển giao..., hai bên dễ xảy ra xung đột trong quá trình hợp tác.
Thứ hai là rào cản về kỳ vọng. Doanh nghiệp mong muốn sản phẩm hoàn hảo để thương mại hóa ngay, trong khi nghiên cứu của viện/trường thường mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm.
Thứ ba là rào cản cơ chế, thủ tục. Các quy định phức tạp về quản lý và thanh lý tài sản công khi sử dụng ngân sách nhà nước trong các viện, trường có thể khiến doanh nghiệp nản lòng khi muốn hợp tác, chuyển giao công nghệ.
Thứ tư là rào cản về niềm tin. Sự thiếu thấu hiểu giữa nhà khoa học và doanh nghiệp, cũng như khác biệt trong cách đánh giá giá trị công nghệ, khiến hai bên khó thống nhất phương án hợp tác.
Mô hình liên kết 5 thành tố thúc đẩy hệ sinh thái kết nối cung cầu bền vững
Để công nghệ sinh học thực sự đi vào đời sống, theo ThS Lê Thị Khánh Vân, Việt Nam cần chấm dứt mô hình hoạt động tự phát để chuyển sang mô hình liên kết chiến lược 5 thành phần.
Trong đó, tổ chức trung gian gồm các sàn giao dịch công nghệ, trung tâm tư vấn chuyển giao và đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp đóng vai trò hạt nhân điều phối dòng công nghệ, tài chính, đồng thời tham mưu chính sách cho các Bộ, ngành.
Bên cung gồm viện nghiên cứu, trường đại học là nơi cung cấp các giải pháp tri thức và công nghệ.
Bên cầu bao gồm thị trường và doanh nghiệp. Trong đó, thị trường phản ánh nhu cầu, còn doanh nghiệp có thể đặt hàng, đóng góp nguồn lực và trực tiếp thương mại hóa sản phẩm.
Cộng đồng và hợp tác quốc tế giúp bên cung tiếp cận các tiêu chuẩn kỹ thuật toàn cầu, đo lường tín chỉ carbon và đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.
Thành tố cuối cùng - nhà nước và chính sách - đóng vai trò tạo nguồn mồi vốn và thiết lập hành lang pháp lý, mang lại thuận lợi cho quá trình thương mại hóa.
Đối với nhà khoa học sở hữu nghiên cứu tiềm năng, ngoài mô hình thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), một lối đi thực tế và nhanh nhất hiện nay là: Hoàn thiện sản phẩm thử nghiệm -> Bao gói hoàn chỉnh -> Đăng ký sở hữu trí tuệ -> Chuyển giao toàn bộ cùng nhãn hiệu.
Thay vì thụ động đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường, cần chuyển sang cơ chế kéo nhu cầu, lấy những vấn đề thực tế của doanh nghiệp làm cơ sở định hướng nghiên cứu và đặt hàng công nghệ.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ThS Lê Thị Khánh Vân đưa ra lộ trình 3 giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Giai đoạn 1 tập trung vào số hóa và đánh giá dữ liệu. Cơ quan chức năng như Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học và công nghệ cần thống kê, chuẩn hóa danh mục công nghệ đạt cấp độ TRL 4-7, đồng thời khảo sát sâu rộng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Giai đoạn 2 là giai đoạn thử nghiệm cơ chế Sandbox. Cần xây dựng hành lang pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) nhằm tháo gỡ các vướng mắc về thanh lý tài sản công, cơ chế vốn đối ứng và chuyển giao tài sản trí tuệ.
Giai đoạn 3 là thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp và mở rộng thị trường quốc tế. Cần khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học thành lập doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ, đồng thời đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mở rộng thị trường quốc tế.
Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự thành công khi tri thức khoa học gặp đúng nhu cầu thị trường. Sự thấu hiểu, tôn trọng quy luật thương trường và sự đồng hành giữa Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp chính là chìa khóa vàng để đưa công nghệ sinh học Việt Nam cất cánh.
End of content
Không có tin nào tiếp theo




