Đưa công nghệ sinh học từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Thiếu chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sinh học / Việt - Nhật: Tăng cường hợp tác về công nghệ sinh học
Tiềm năng lớn, thách thức nhiều
Ngày 15/10, Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) phối hợp tổ chức hội thảo Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Thanh Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phá biểu tại sự kiện. Ảnh: Hà Tuấn.
Theo ông Tùng, Việt Nam sở hữu lợi thế vô cùng to lớn để phát triển kinh tế sinh học khi là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, sở hữu nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm sinh học dồi dào chưa được khai thác hết giá trị.
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng xác định vai trò to lớn của công nghệ sinh học khi Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã khẳng định rõ: Công nghệ sinh học là ngành kinh tế - kĩ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn.
“Tuy nhiên, khoảng cách từ "phòng thí nghiệm" đến "thị trường" tại Việt Nam vẫn còn những khó khăn đáng kể”, ông Tùng thừa nhận.
Khó khăn đầu tiên và lớn nhất nằm ở cơ chế, chính sách tài chính và định giá tài sản trí tuệ hình thành từ Ngân sách Nhà nước. Các quy định pháp luật về quản lí, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ trong các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn khiến không ít nhà khoa học và các viện trường lúng túng, thậm chí e ngại rủi ro pháp lí khi tiến hành hợp tác thương mại hóa với khối doanh nghiệp.
Khó khăn thứ hai là sự thiếu vắng một thị trường kết nối cung - cầu công nghệ sinh học thực chất và đồng bộ khiến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và nhà khoa học trong nước vẫn chưa “tìm thấy nhau”.
Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm mẫu và thương mại hóa thử nghiệm còn vô cùng hạn chế, chưa hình thành được các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho lĩnh vực công nghệ sinh học đầy tiềm năng nhưng nhiều rủi ro kỹ thuật này.
Ba định hướng phát triển công nghệ sinh học và kinh tế sinh học
“Công nghệ sinh học có nhiều tiềm năng ứng dụng rộng lớn trong nông nghiệp, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường nhưng tiềm năng công nghệ không tự động chuyển thành giá trị kinh tế. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường chấp nhận vẫn là thách thức cần giải quyết”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương nhận xét.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Hà Tuấn.
Thứ nhất, cần tăng cường nhận thức về kinh tế sinh học và đo lường đóng góp đối với nền kinh tế. Việc đẩy mạnh truyền thông khoa học, giới thiệu các mô hình ứng dụng hiệu quả giúp doanh nghiệp và người dân hiểu rõ cơ hội, lợi ích cũng như yêu cầu về chất lượng, an toàn sinh học và bảo vệ môi trường. Trong khi đo lường đóng góp của công nghệ sinh học đối với GDP và nền kinh tế sẽ giúp đánh giá rõ hơn giá trị tạo ra ở các khâu nghiên cứu, sản xuất, chế biến và thương mại hóa.
Thứ hai, cần gắn kết giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và nhà đầu tư ngay từ khâu xác định hướng nghiên cứu.
“Đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm đòi hỏi thời gian, sự hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá chất lượng và nguồn lực đầu tư đáng kể. Giá trị của kết quả nghiên cứu không chỉ nằm ở tính mới về khoa học, mà còn ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và tạo giá trị cho sản xuất, đời sống”, ông Đạt nhận định.
Cùng với đó, cần tạo nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện, thử nghiệm và phát triển sản phẩm để các kết quả nghiên cứu có giá trị đi được đến đích.
Thứ ba, cần xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu, phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp
“Thương mại hóa công nghệ sinh học đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên: viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và phát triển công nghệ; doanh nghiệp nhận diện nhu cầu, tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường; các tổ chức trung gian kết nối đối tác và thúc đẩy chuyển giao”, ông Đạt nhấn mạnh.
Sự liên kết này phải tạo ra kết quả thực chất, không dừng ở trao đổi thông tin hay ký kết hợp tác. Doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng, đồng hành cùng nhà khoa học; nhà khoa học cần quan tâm đến khả năng chuyển giao và nhu cầu người sử dụng, từ đó hình thành hệ sinh thái kinh tế sinh học có khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao sức cạnh tranh của công nghệ sinh học Việt Nam.
Phát triển công nghệ sinh học và kinh tế sinh học không chỉ là câu chuyện của một ngành công nghệ hay một lĩnh vực sản xuất, mà còn là vấn đề về năng lực làm chủ công nghệ, khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và sự gắn kết giữa nghiên cứu với yêu cầu phát triển của đất nước. Khi giải quyết được những điểm nghẽn trên, kinh tế sinh học mới có cơ hội phát huy được vai trò động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số.
End of content
Không có tin nào tiếp theo




