PGS.TS Trần Thăng Long: Kinh tế xanh phải gắn với sinh kế người dân
Phát triển kinh tế xanh phải gắn liền với chuyển đổi số / Logistics tuần hoàn: Chìa khóa cạnh tranh trong nền kinh tế xanh
Trước thềm Hội thảo quốc tế thường niên - ASEAN với biến đổi khí hậu (ACCC) lần thứ 5 năm 2026, PGS.TS Trần Thăng Long - Trưởng Khoa Ngoại ngữ pháp lý, giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, chia sẻ với Tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam về cơ hội phát triển sinh kế bền vững từ tín chỉ carbon rừng, năng lượng tái tạo và nông nghiệp thông minh, cùng những điều kiện cần thiết để khai thác hiệu quả các nguồn lực này.

PGS.TS Trần Thăng Long - Trưởng Khoa Ngoại ngữ pháp lý, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
Là chủ tọa và diễn giả tại hội thảo, ông chia sẻ góc nhìn về sự kết nối giữa chính sách, bảo vệ tài nguyên và lợi ích của người dân trong chuyển đổi xanh. Hội thảo sẽ diễn ra ngày 30/10 tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, do nhà trường phối hợp với Trung tâm Luật Quốc tế thuộc Đại học Quốc gia Singapore tổ chức, với chủ đề “Định hình cơ chế khí hậu ở Đông Nam Á thông qua pháp luật quốc tế”.
Thưa ông, tín chỉ carbon rừng đang được quan tâm như một nguồn lực cho kinh tế xanh. Ông nhìn nhận thế nào về cơ hội này đối với Việt Nam?
PGS.TS Trần Thăng Long: Tín chỉ carbon rừng là chứng nhận có thể giao dịch. Mỗi tín chỉ carbon rừng tương đương một tấn CO₂ hoặc CO₂ tương đương được giảm phát thải hoặc hấp thụ thông qua quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Giá trị được giao dịch là kết quả đã được đo đạc, báo cáo, thẩm định và công nhận.
Việt Nam có lợi thế với hơn 14,87 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 42,03% vào cuối năm 2024. Tuy nhiên, có rừng chưa đồng nghĩa với có tín chỉ để chuyển nhượng. Muốn khai thác nguồn lực này, phải chứng minh được kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon và đáp ứng các yêu cầu liên quan.
Theo Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam đã nhận 51,5 triệu USD cho 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải được xác minh. Kết quả này cho thấy bảo vệ rừng có thể mang lại nguồn thu thực tế, bổ sung kinh phí cho lâm nghiệp và sinh kế của người dân.

PGS.TS Trần Thăng Long (giữa) cùng các đại biểu trong nước và quốc tế trao đổi thông tin tại các phiên thảo luận thuộc ACCC.
Từ nguồn thu ấy, theo ông, cần làm gì để những người trực tiếp giữ rừng có thêm điều kiện gắn bó lâu dài với rừng?
PGS.TS Trần Thăng Long: Cần có cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch. Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đặt ra nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng cùng các bên liên quan.
Với hộ gia đình và cộng đồng, nguồn thu cần phục vụ quản lý, bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế. Công sức giữ rừng phải được ghi nhận bằng quyền lợi cụ thể để người dân có điều kiện tiếp tục công việc này.
Về lâu dài, phân bổ lợi ích cần phản ánh sát đóng góp thực tế, dựa trên dữ liệu đo đạc, báo cáo, thẩm định. Cũng cần tính đến mức độ phụ thuộc vào rừng và những cơ hội thu nhập người dân phải từ bỏ khi lựa chọn bảo vệ rừng. Khi quyền lợi được bảo đảm, sự tham gia của cộng đồng sẽ bền vững hơn.
Điện gió, điện mặt trời và hydrogen xanh đang ngày càng được quan tâm trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Ông nhìn nhận thế nào về triển vọng phát triển các lĩnh vực này tại Việt Nam?
PGS.TS Trần Thăng Long: Đây là những lĩnh vực có triển vọng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng không của Việt Nam. Điện gió, điện mặt trời đã đóng góp vào hệ thống điện, nhưng sản lượng phụ thuộc thời tiết nên việc khai thác hiệu quả phải đi cùng khả năng điều độ và lưu trữ.

Các diễn giả trao đổi, thảo luận các vấn đề chuyên sâu tại hội thảo ACCC năm 2025.
Hydrogen xanh mở ra một hướng hỗ trợ giải quyết bài toán này. Điện tái tạo được dùng để điện phân nước, tạo hydrogen; sau đó hydrogen có thể được lưu trữ và chuyển đổi thành điện qua pin nhiên liệu khi cần. Nhờ đó, lượng điện tái tạo dư thừa có thể được tận dụng để phục vụ nhu cầu sử dụng vào thời điểm khác.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận hydrogen xanh là hướng phát triển có tiềm năng, với khả năng ứng dụng tùy thuộc điều kiện thực tế. Với Việt Nam, sự kết hợp giữa điện tái tạo và lưu trữ năng lượng còn gợi mở cơ hội cung cấp điện sạch cho hải đảo, vùng sâu, phục vụ sản xuất, du lịch sinh thái và kinh tế biển.
Còn trong nông nghiệp, theo ông, công nghệ cần giúp người nông dân giải quyết những vấn đề gì để chuyển đổi xanh thực sự hiệu quả?
PGS.TS Trần Thăng Long: Trước hết là sử dụng tài nguyên hiệu quả và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Nông nghiệp phải bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời giảm sức ép lên đất, nước và môi trường.
Cảm biến kết nối vạn vật (IoT) giúp theo dõi điều kiện canh tác; tưới nhỏ giọt tự động giúp kiểm soát lượng nước; nhà màng hỗ trợ quản lý môi trường sản xuất. Chế phẩm bảo vệ thực vật sinh học cũng góp phần giảm tác động đến môi trường.
Hiệu quả cần thể hiện ở năng suất, lượng nước tiết kiệm được và mức sử dụng vật tư hợp lý. Với người nông dân, công nghệ có ý nghĩa khi giúp họ chủ động trong canh tác, duy trì sinh kế và bảo vệ nguồn tài nguyên mà sản xuất đang phụ thuộc.
Tại Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Theo ông, ba trụ cột kinh tế xanh vừa đề cập có thể kết hợp như thế nào để giúp vùng thích ứng và tạo sinh kế bền vững cho người dân?
PGS.TS Trần Thăng Long: Với Đồng bằng sông Cửu Long, sự kết hợp này cần xuất phát từ nhu cầu thích ứng và sinh kế của người dân.

PGS.TS Trần Thăng Long trao giải nhất cuộc thi tiếng Anh liên trường Inter-University English Challenge 2025.
Rừng ngập mặn ven biển góp phần hạn chế sạt lở, bảo vệ bờ biển; cùng với rừng tràm, các hệ sinh thái này còn hấp thụ và lưu giữ carbon. Khi đáp ứng điều kiện hình thành tín chỉ, rừng có thể tạo thêm nguồn thu để tái đầu tư cho bảo vệ rừng và hỗ trợ cộng đồng.
Vùng cũng có tiềm năng phát triển điện gió ven bờ, điện mặt trời kết hợp sản xuất nông nghiệp. Nguồn điện sạch có thể phục vụ hoạt động sản xuất, trong khi cảm biến đo độ mặn, hệ thống tưới tiết kiệm và mô hình lúa - tôm thích ứng giúp người dân chủ động điều chỉnh canh tác theo điều kiện nguồn nước.
Ba lĩnh vực cần được kết nối phù hợp với từng địa bàn. Nguồn thu carbon hỗ trợ giữ rừng và sinh kế; năng lượng sạch phục vụ sản xuất; công nghệ giúp sử dụng hiệu quả đất, nước và giảm thiệt hại do hạn mặn.
Để sự kết hợp này mang lại hiệu quả lâu dài, chính sách phải làm rõ quyền lợi, trách nhiệm của người dân và doanh nghiệp. Người dân cần được hưởng lợi từ việc bảo vệ tài nguyên, đồng thời có điều kiện tham gia vào quá trình chuyển đổi. Đó là cơ sở để kinh tế xanh góp phần tạo sinh kế bền vững cho vùng.
Xin cảm ơn ông!
End of content
Không có tin nào tiếp theo








