Thị trường

Giá nông sản ngày 10/6: Cà phê bật tăng trở lại, hồ tiêu đi ngang, gạo xuất khẩu giảm nhẹ

DNVN - Giá cà phê trong nước đã phục hồi sau chuỗi phiên giảm sâu trước đó, trong khi hồ tiêu tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Riêng với mặt hàng gạo, thị trường nội địa ít biến động nhưng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã quay đầu giảm nhẹ so với cuối tuần trước.

Tây Ninh thí điểm mô hình ‘Làm sạch địa bàn về quản lý thị trường’ / Việt Nam - điểm sáng về phát triển năng lượng sạch

Giá cà phê trong nước phục hồi, thế giới phân hóa

Sau nhiều ngày liên tục đi xuống, giá cà phê nội địa trong phiên giao dịch sáng 10/6 đã phát đi tín hiệu tích cực khi đồng loạt tăng trở lại tại khu vực Tây Nguyên. Khảo sát tại các địa phương trọng điểm cho thấy giá cà phê hiện dao động trong khoảng 85.000 - 85.600 đồng/kg, tăng từ 300 - 500 đồng/kg so với hôm qua.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tiếp tục giữ vị trí địa phương có giá cao nhất cả nước, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tăng thêm 300 đồng/kg, lên mức 85.600 đồng/kg. Cùng chiều tăng, giá cà phê tại Đắk Lắk và Gia Lai đồng loạt tăng 400 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 85.500 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng mạnh nhất 500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 85.000 đồng/kg.

Sau hai tuần liên tiếp chứng kiến giá giảm mạnh, việc giá cà phê nội địa phục hồi phần nào giúp tâm lý người trồng cà phê ổn định hơn. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện tại vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn đỉnh cao hồi đầu năm.

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, tâm lý thận trọng của giới đầu tư trước các phiên báo cáo tồn kho trên sàn quốc tế đang tác động mạnh đến biến động giá cà phê trong nước. Dù vậy, nguồn cung nội địa tại các tỉnh Tây Nguyên vẫn duy trì ở mức vừa phải, tạo lực đỡ giúp giá thu mua tại Đắk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng đồng loạt phục hồi nhẹ trong ngày hôm nay.

 

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tiếp tục diễn biến phân hóa giữa hai sàn giao dịch lớn. Cụ thể, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 trên sàn London tăng 17 USD/tấn, tương đương 0,51%, lên 3.333 USD/tấn. Đối với hợp đồng giao tháng 9/2026, mức tăng mạnh hơn 27 USD/tấn đã đưa giá lên 3.260 USD/tấn. Đây được xem là phiên phục hồi đáng chú ý sau khi giá Robusta giảm hơn 5% trong tuần trước và rơi xuống vùng thấp nhất trong 7 tuần.

Ở chiều ngược lại, thông tin cập nhật cuối ngày 9/6 cho thấy giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 trên sàn London giảm 5 USD/tấn, tương đương 0,15%, xuống còn 3.328 USD/tấn.

Đối với Arabica, đà suy yếu trên sàn New York vẫn tiếp tục kéo dài khi hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 0,6 US cent/pound xuống mức 245,9 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 9/2026 giảm 0,45 US cent/pound xuống 241,65 US cent/pound. Theo đó, giá Arabica đã trải qua 6 phiên giảm liên tiếp và hiện dao động quanh vùng thấp nhất trong khoảng 19 tháng trở lại đây.

 

Trong khi đó, dữ liệu cập nhật cuối ngày 9/6 lại cho thấy hợp đồng Arabica giao tháng 7/2026 tăng nhẹ 0,20 US cent/pound, tương đương 0,08%, lên mức 246,10 US cent/pound.

Giá tiêu trong nước ổn định, thế giới đi ngang

Bước vào phiên giao dịch ngày 10/6, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định sau nhiều tuần biến động. Theo khảo sát tại các vùng nguyên liệu trọng điểm, giá tiêu hiện dao động trong khoảng 137.000 - 140.000 đồng/kg và không thay đổi so với các ngày trước đó.

 

Hiện Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) vẫn là hai địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước khi cùng đạt 140.000 đồng/kg. Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu ở Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM) đang được giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai và Gia Lai tiếp tục duy trì mức giá 137.000 đồng/kg.

Theo các doanh nghiệp thu mua, thị trường hiện chưa xuất hiện thêm động lực đủ mạnh để tạo ra biến động lớn về giá. Sau giai đoạn điều chỉnh kéo dài từ cuối tháng 5 đến nay, nhiều nông hộ vẫn duy trì tâm lý thận trọng và hạn chế bán ra khi mức giá hiện tại chưa đạt kỳ vọng.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn tiếp tục đi ngang. Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 7.091 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giao dịch quanh ngưỡng 6.025 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia giữ mức 9.350 USD/tấn.

 

Đối với thị trường Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l hiện vẫn dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia đang được chào bán với giá 9.151 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia và Việt Nam lần lượt duy trì mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.

Theo đánh giá của giới chuyên gia, việc giá hồ tiêu thế giới duy trì ổn định trong thời gian gần đây cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn quan sát trước những biến động khó lường của kinh tế và thương mại toàn cầu.

 

Giá gạo trong nước ít biến động, xuất khẩu giảm nhẹ

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay ít biến động và hoạt động giao dịch mua bán diễn ra chậm. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 từ 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa IR 50404 đạt 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 dao động 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Tại các địa phương gồm Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, nguồn lúa Hè Thu hiện được chào bán rải rác, lượng giao dịch mua mới khá ít và giá nhìn chung tương đối ổn định.

 

Đối với mặt hàng gạo, giá gạo thành phẩm IR 504 hiện dao động trong khoảng 10.750 - 10.900 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 đạt mức 8.700 - 8.880 đồng/kg; CL 555 ở ngưỡng 9.100 - 9.300 đồng/kg; OM 5451 dao động 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Trong đó, gạo Nàng Nhen được niêm yết ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài đạt 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan đạt 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng giữ mức 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Jasmine ở mức 13.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường đạt 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg và gạo Nhật đạt 22.000 đồng/kg.

Ở phân khúc nếp, giá vẫn duy trì ổn định với nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg và nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

 

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã quay đầu giảm nhẹ so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 509 - 513 USD/tấn, giảm 6 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 495 - 497 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 343 - 347 USD/tấn, giảm 1 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động trong khoảng 459 - 463 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 416 - 420 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm đang được chào bán ở mức 340 - 344 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động từ 276 - 280 USD/tấn.

Lan Lê
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Cột tin quảng cáo

Có thể bạn quan tâm