Từ chỗ bị xem thường thành “lộc rừng” nuôi sống người dân ven biển
Shopee, Lazada bị yêu cầu ngừng bán sản phẩm Slimaura Care x3 / ST8 bị phạt 125 triệu đồng vì công bố sai lợi nhuận
Không chỉ xuất hiện trong những bữa cơm dân dã của người miền Tây, ba khía còn được chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn, trở thành đặc sản được thực khách tìm mua và là món quà quê được lựa chọn trong những dịp lễ, Tết.

Người dân ven rừng có thu nhập từ việc bắt ba khía.
Ở vùng đất cuối trời Nam, ba khía gắn với những cánh rừng ngập mặn, bãi bồi ven biển và cuộc sống của người dân sống dựa vào nguồn lợi tự nhiên. Tại Cà Mau, loài này xuất hiện nhiều ở các địa bàn như Năm Căn, Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Phú Tân… Đối với nhiều hộ dân ven rừng, bắt ba khía không chỉ là một nghề mưu sinh theo mùa mà còn là cách tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có để tạo thêm thu nhập.
“Lộc rừng” nuôi sống người dân ven biển
Ba khía thuộc họ cua, có kích thước nhỏ, thường sống trong các khu vực rừng ngập mặn, bãi bồi, ven sông, ven biển. Loài này có đặc tính sinh sống khá đặc biệt, thường ẩn trong các hang hoặc bám trên những gốc cây, bờ đất. Đến mùa sinh sản, chúng tập trung với số lượng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khai thác.
Nghề bắt ba khía không cần đầu tư quá nhiều vốn, nhưng đòi hỏi người làm nghề phải có kinh nghiệm, biết địa điểm, thời điểm và đặc tính của loài này. Với những người đã gắn bó lâu năm với rừng, việc tìm và bắt ba khía gần như trở thành một kỹ năng được tích lũy qua nhiều năm.

Ba khía có thể chế biến thành nhiều món ăn, ngon nhất vẫn là ba khía muối.
Anh Trần Văn Linh, ngụ xã Phan Ngọc Hiển (Cà Mau), là một trong những người có nhiều năm gắn bó với nghề bắt ba khía. Theo anh Linh, vào mùa ba khía tập trung đông, chỉ cần ra những khu vực rừng, bãi bồi quen thuộc là có thể bắt gặp chúng bò trên các gốc cây, bờ đất.
Công việc tưởng đơn giản nhưng cũng không phải lúc nào sản lượng cũng ổn định. Người bắt phải chịu khó đi xa, nhiều khi phải tranh thủ thời gian thủy triều và thời điểm ba khía hoạt động mạnh để có thể bắt được nhiều.
“Nghề này tuy không giàu nhưng đủ giúp tôi nuôi sống gia đình và lo cho con cái ăn học. Trung bình, mỗi ngày tôi có thu nhập khoảng 300.000 - 500.000 đồng từ việc bán ba khía. Loài sản vật này đã giúp tôi có cuộc sống tương đối ổn định”, anh Linh chia sẻ.
Theo người dân địa phương, hiện ba khía tươi được các vựa thu mua với giá khoảng 60.000 đồng/kg. Ba khía sau khi được chế biến, đặc biệt là ba khía muối, có giá cao hơn, khoảng 130.000 - 200.000 đồng/kg tùy loại và chất lượng. Đặc biệt, ba khía muối nước mắm có giá cao hơn.
Điều đó cho thấy sự thay đổi đáng kể về giá trị kinh tế của một loài từng bị xem nhẹ. Từ sản vật tự nhiên gần như chỉ được khai thác để sử dụng trong phạm vi gia đình, ba khía đã trở thành hàng hóa có thị trường, tạo thêm sinh kế cho người dân vùng ven rừng.
Sự thay đổi trong cách nhìn nhận và tiêu dùng đã giúp ba khía có giá trị kinh tế ngày càng cao. Tuy nhiên, đi cùng với giá trị ấy là bài toán làm thế nào để nguồn lợi tự nhiên không bị khai thác quá mức.
Mùa hội ba khía và câu chuyện giữ “lộc rừng”
Anh Dũng, một người dân sống ven rừng ở xã Phan Ngọc Hiển cho hay, vào tháng 7 âm lịch hằng năm được xem là thời điểm ba khía vào mùa sinh sản. Chúng tập trung đông tại những khu vực rừng ngập mặn, bãi bồi. Đây được xem là mùa hội của ba khía.

Ba khía muối nước mắm - món ăn lạ miệng đậm đà vị phù sa.
Anh Linh cũng cho biết thêm, người dân địa phương ngày càng ý thức rõ hơn việc phải giữ nguồn ba khía cho những mùa sau. Những con đạt kích thước phù hợp mới được bắt, còn những con nhỏ hoặc đang mang trứng thường được thả trở lại môi trường tự nhiên.
“Ba khía sống nhờ tự nhiên nên nếu khai thác quá mức thì nguồn ba khía sẽ ít dần. Bà con bây giờ cũng biết phải để lại những con nhỏ, những con có trứng để chúng tiếp tục sinh sản”, anh Linh nói.
Còn theo lãnh đạo xã Phan Ngọc Hiển, khi ba khía trở thành sản vật rừng có giá trị kinh tế, việc bảo vệ nguồn lợi càng trở nên cần thiết. Địa phương cần có những giải pháp phù hợp để vừa tạo điều kiện cho người dân khai thác, vừa bảo đảm nguồn ba khía có thể tái tạo trong tự nhiên.
Đây không chỉ là câu chuyện bảo vệ một loài thủy sản mà còn liên quan trực tiếp đến sinh kế của người dân sống ven rừng. Khi nguồn lợi tự nhiên được duy trì, người dân mới có thể tiếp tục dựa vào đó để kiếm sống.
Một trong những hướng đi đang được địa phương quan tâm là nghiên cứu nhân giống và từng bước xây dựng mô hình nuôi ba khía. Trước đây huyện Ngọc Hiển (cũ) đã phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu và nhân giống ba khía sinh sản thành công. Kết quả này mở ra cơ sở để địa phương tiếp tục nghiên cứu, hướng đến xây dựng mô hình nuôi trong thời gian tới.

Gian hàng sản phẩm OCOP trưng bày ba khía muối.
Nếu được triển khai phù hợp với điều kiện thực tế, mô hình nuôi ba khía có thể mang lại nhiều lợi ích. Trước hết, việc chủ động tạo nguồn cung sẽ góp phần giảm áp lực khai thác từ tự nhiên. Đồng thời, người dân có thêm một hướng phát triển kinh tế, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào sản lượng ba khía theo mùa.
Xa hơn, việc kết hợp giữa bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, khai thác có kiểm soát và nghiên cứu nuôi thương phẩm có thể giúp hình thành chuỗi giá trị cho sản vật này. Từ con ba khía tươi, người dân có thể phát triển các sản phẩm chế biến như ba khía muối, đóng gói, bảo quản và đưa đến những thị trường rộng hơn.
Tuy nhiên, môi trường sống tự nhiên của ba khía vẫn là yếu tố quan trọng. Rừng ngập mặn, bãi bồi và hệ sinh thái ven biển chính là nơi loài này sinh trưởng, sinh sản. Việc bảo vệ môi trường sống cũng chính là bảo vệ sinh kế lâu dài của người dân.
Hiện nay, ba khía ngày càng được thị trường ưa chuộng, việc khai thác cần đi đôi với bảo tồn. Bắt những con đạt kích cỡ, thả lại cá thể nhỏ và ba khía mang trứng, bảo vệ môi trường sống tự nhiên, đồng thời nghiên cứu nhân giống và phát triển mô hình nuôi là những hướng đi cần thiết.
Nếu làm tốt, ba khía không chỉ tiếp tục là món ăn dân dã trên mâm cơm người miền Tây mà còn có thể trở thành một sản phẩm đặc trưng gắn với sinh kế bền vững của người dân Cà Mau.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








