Doanh nghiệp kiến nghị giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm an toàn thực phẩm
Đà Nẵng: 8 tháng xuất siêu gần 200 triệu USD / Doanh nghiệp Việt đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài
Kiến nghị ưu tiên nguồn lực cho hậu kiểm thực chất
Hoàn thiện khung pháp lý về an toàn thực phẩm, nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là chủ trương của Chính phủ và thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng.
Tại hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)” chiều 4/9 tại Hà Nội, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng thư ký VCCI - cho biết, đây là đạo luật có phạm vi tác động rất rộng, liên quan trực tiếp đến bữa ăn hằng ngày của hơn 100 triệu người dân và sinh kế của hàng triệu hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp, từ nông dân, chủ tàu cá đến các nhà máy chế biến xuất khẩu và nền tảng thương mại điện tử.
Cộng đồng doanh nghiệp đồng thuận cao với hướng cải cách lần này, nhất là việc chuyển trọng tâm quản lý sang hậu kiểm, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp đi kèm trách nhiệm và tập trung nguồn lực nhà nước vào nhóm có nguy cơ cao. Đây cũng là xu thế quản lý phổ biến trên thế giới.
Một trong những vấn đề được VCCI và các hiệp hội ngành hàng quan tâm là sự chưa tương thích giữa phân loại nguy cơ và mức độ thủ tục trong dự thảo. Điều 43 phân loại thực phẩm thành hai nhóm nguy cơ, trong khi Điều 46 lại thiết kế ba tầng thủ tục. Theo VCCI, cách thiết kế này có thể khiến nguồn lực quản lý không được tập trung đúng trọng tâm.

Trong khi đó, hướng dẫn phân loại rủi ro của FAO năm 2023 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đều chia thành ba mức độ cao, trung bình và thấp. Vì vậy, VCCI đề nghị thống nhất cách phân loại và thuật ngữ, đồng thời làm rõ các tiêu chí tại khoản 2 Điều 46. Những khái niệm như “sản phẩm có khuyến cáo về sức khỏe”, “sử dụng cho đối tượng dễ tổn thương” hay “tác dụng duy trì, tăng cường chức năng cơ thể” hiện có phạm vi diễn giải rộng, dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
VCCI đánh giá, các yêu cầu như bằng chứng khoa học chứng minh công dụng, báo cáo nghiên cứu phát triển sản phẩm hay kết quả nghiên cứu độ ổn định có thể phù hợp với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các nhóm đặc thù. Tuy nhiên, nếu áp dụng chung cho thực phẩm thông thường, đặc biệt là sản phẩm truyền thống của làng nghề và doanh nghiệp nhỏ, tính khả thi cần được xem xét.
Cùng với đó, dự thảo cần làm rõ doanh nghiệp có được đưa sản phẩm ra lưu hành ngay sau khi nộp hồ sơ hay phải chờ cơ quan nhà nước tiếp nhận, đăng tải. Đây là yếu tố quyết định bản chất của cơ chế công bố tiêu chuẩn sản phẩm.
Đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA) bày tỏ lo ngại các quy định mới có thể tạo ra nút thắt tiền kiểm. Theo hiệp hội, cơ chế hiện hành yêu cầu hồ sơ tự công bố gồm 2 loại tài liệu, hồ sơ đăng ký gồm 4 loại, thời gian xử lý từ 0-7 ngày. Dù còn hạn chế như mới tập trung vào các chỉ tiêu an toàn, chưa kiểm soát đầy đủ chỉ tiêu chất lượng và quy định hậu kiểm chưa rõ, cơ chế này vẫn tạo điều kiện để doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường nhanh.
Trong khi đó, dự thảo nâng số lượng tài liệu trong hồ sơ lên 14 loại, tương đương 3,5-7 lần hiện nay. Một số yêu cầu như bằng chứng khoa học chứng minh công dụng, báo cáo nghiên cứu phát triển hay kết quả nghiên cứu độ ổn định có thể rất khó đáp ứng đối với thực phẩm thông thường. Thời gian xử lý cũng tăng lên 15 ngày đối với tự công bố và 90 ngày đối với đăng ký. VDA cảnh báo điều này có thể khiến nhiều sản phẩm truyền thống không đủ khả năng hoàn thiện hồ sơ, thậm chí đối mặt nguy cơ phải dừng hoạt động.
VDA đề nghị thay vì tiếp tục tăng yêu cầu tiền kiểm, cơ quan quản lý nên ưu tiên nguồn lực cho hậu kiểm thực chất. Hồ sơ có thể bổ sung yêu cầu kiểm nghiệm chất lượng nhằm kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng và giấy ủy quyền để tăng khả năng quản lý theo chuỗi sản phẩm.
Quản lý theo rủi ro để tránh ách tắc

Với thực phẩm nhập khẩu và xuất khẩu, doanh nghiệp đề nghị dự thảo điều chỉnh cách thức kiểm soát theo hướng dựa trên rủi ro, lịch sử tuân thủ.
Với hàng nhập khẩu, VCCI cho rằng việc yêu cầu thông báo kết quả đạt yêu cầu đối với từng lô, kể cả khi áp dụng phương thức kiểm tra giảm, có thể làm tăng thủ tục và nguy cơ ùn tắc tại cửa khẩu, nhất là với hàng tươi sống. Đơn vị này đề nghị cân nhắc miễn kiểm tra đối với nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến nhập khẩu để sử dụng nội bộ, không lưu thông trực tiếp; với phương thức kiểm tra giảm, chỉ nên kiểm tra hồ sơ đối với các cơ sở đã được chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000 hoặc hệ thống tương đương.
Đối với hàng xuất khẩu, doanh nghiệp kiến nghị có quy định rõ khi phát hiện dư lượng chất mà Việt Nam chưa thiết lập ngưỡng cụ thể, tránh tình trạng cơ quan quản lý, doanh nghiệp và phòng thử nghiệm thiếu căn cứ chung để kết luận. Việc thiết lập ngưỡng mặc định, theo ý kiến doanh nghiệp, không đồng nghĩa với hạ chuẩn an toàn mà nhằm tạo căn cứ đánh giá thống nhất, minh bạch và khoa học.
Bên cạnh đó, sản phẩm xuất khẩu được sản xuất để tiêu dùng tại nước ngoài nên cần ưu tiên đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. VCCI đề nghị nguyên tắc này được quy định thống nhất với pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Đồng thời, cách tiếp cận dựa trên rủi ro và lịch sử tuân thủ cũng nên được áp dụng trong kiểm tra, chứng nhận lô hàng xuất khẩu thay vì kiểm tra đồng loạt.
Theo ông Nguyễn Như Tiệp - chuyên gia, đại diện Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, dự thảo đã thể hiện rõ bước chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro, nhưng cần xác định rõ tiêu chí và quy trình phân loại. Không nên chỉ liệt kê một số nhóm sản phẩm vào diện rủi ro cao mà phải có bộ tiêu chí đánh giá cụ thể.
"Bộ Y tế đã thành lập Trung tâm đánh giá nguy cơ tại Viện Kiểm nghiệm Quốc gia. Trên cơ sở đánh giá rủi ro, có thể quyết định phân thành 2 hay 3 mức độ. Số lượng mức độ không phải vấn đề cốt lõi, quan trọng là cách thức quản lý phải thực sự dựa trên dữ liệu và rủi ro", ông Tiệp nêu.
Đặc biệt, ông Tiệp cho rằng thủ tục “công bố tiêu chuẩn” hiện được thiết kế quá phức tạp, không khác nhiều so với đăng ký công bố. Vì vậy, cần tận dụng chuyển đổi số để doanh nghiệp tự công bố sản phẩm, tự công bố tiêu chuẩn trên một cổng thông tin và nền tảng dữ liệu dùng chung. Cơ quan quản lý sử dụng dữ liệu này để phân tích rủi ro và hậu kiểm, thay vì phát sinh thêm các thủ tục hành chính.
Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Phương Tuấn - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, dự thảo Luật đang sử dụng hai thuật ngữ khác nhau là “nguy cơ” và “rủi ro”, cần thống nhất cách sử dụng.
Liên quan đến nội dung tiền kiểm và hậu kiểm, theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đây là một vấn đề rất khó quyết định ngay.
"Tôi nghe nhiều ý kiến cho rằng cần hạn chế tiền kiểm và chuyển sang hậu kiểm. Nhưng vấn đề là chuyển sang hậu kiểm ở khâu nào. Không thể chuyển toàn bộ sang hậu kiểm. Với những vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, nếu ăn vào rồi mới hậu kiểm thì đã quá muộn.
Phòng ngừa vẫn hơn khắc phục. Vì vậy, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ khâu nào cần tiền kiểm và nội dung nào tập trung hậu kiểm. Không nên chỉ vì cho rằng tiền kiểm nhiều sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà chuyển sang hậu kiểm", ông Nguyễn Phương Tuấn nói.
End of content
Không có tin nào tiếp theo
Xem nhiều nhất
Văn phòng tích hợp khách sạn, bán lẻ lên ngôi
VCCI kiến nghị sửa cơ chế giá nước, xử lý sự cố cấp bách
Nâng cao chất lượng, công nghệ để hàng Việt đi sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
Năm nhóm giải pháp chiến lược để xuất khẩu sầu riêng bứt phá
Doanh nghiệp kiến nghị giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm an toàn thực phẩm








