Thị trường

Đồng Nai: Thu bạc tỷ từ nuôi thủy sản nước lợ

Chưa ghi nhận ảnh hưởng xâm nhập mặn năm 2019 Khuyến khích nông dân trồng trà Phú Hội Từ vùng đất cằn cỗi nhiễm phèn, mặn vào mùa khô và ngập nước mùa mưa, vài năm trở lại đây, nuôi thủy sản nước lợ đã làm thay đổi gần như toàn bộ đời sống của hàng trăm hộ dân sống dọc sông Đồng Nai đoạn qua huyện Nhơn Trạch.

Bạc Liêu: Nuôi lươn không bùn, thoát kiếp "lội bùn" / Đồng Tháp: Lời cả trăm triệu nhờ 19 bể xi măng nuôi ép lươn đồng đẻ trứng

Anh Nguyễn Huy Bình, ấp Bà Trường, xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) đang kiểm tra tôm trong ao. Ảnh: H.Lộc

Anh Nguyễn Huy Bình, ấp Bà Trường, xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) đang kiểm tra tôm trong ao. Ảnh: H.Lộc

Tại các địa phương như: Phước An, Phú Hữu, Đại Phước, Vĩnh Thanh..., nhiều gia đình kiếm được từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng nhờ nuôi thủy sản nước lợ.

Những tỷ phú vùng nước lợ

Những ngày này, gia đình anh Nguyễn Huy Bình (ấp Bà Trường, xã Phước An) đang tất bật với công việc cải tạo 1,8 ngàn m2 đất trồng tràm để nuôi tôm. Đây là năm thứ 3 liên tiếp gia đình anh Bình mở rộng diện tích nuôi tôm do hiệu quả kinh tế mang lại khá cao.

Anh Bình kể, trước đây, trên diện tích gần 3 hécta, gia đình anh trồng lúa, có lúc trồng tràm nhưng hiệu quả kinh tế không cao, nhiều vụ lúa mất trắng nên bỏ hoang đất. Khoảng 5 năm trước, theo các hộ gia đình ở địa phương, anh đào ao nuôi tôm theo hình thức thâm canh tự nhiên. Tuy nhiên, do kinh nghiệm không có, đầu tư chưa đến nơi đến chốn, không kiểm soát được dịch bệnh cũng như chất lượng con giống nên vụ trúng thì lời ít, có vụ lỗ. 3 năm trở lại đây, anh mạnh dạn đầu tư lót bạt đáy, hệ thống máy quạt. Anh cũng bỏ thời gian học tập kinh nghiệm xử lý ao nuôi, chọn giống, phòng trừ bệnh cho tôm nên kết quả khá hơn.

“Từ đầu năm đến nay, tôi thu hoạch được 47 tấn tôm. Tôi dự tính còn khoảng 35 tấn nữa sẽ thu làm 2 đợt từ nay đến cuối năm. Với giá bán trung bình 155 triệu đồng/tấn tôm, sau khi trừ mọi chi phí tôi lời trên dưới 50 triệu đồng/tấn” - anh Bình phấn khởi nói.

 

Anh Bình là hộ nuôi tôm “mát tay” trong xã với 2 năm liên tiếp “trúng” lớn. Năm trước, sau khi trừ mọi chi phí, anh thu lời hơn 3 tỷ đồng. “Tháng 11 tôi sẽ có ao nuôi tôm nổi đầu tiên với diện tích 1,8 ngàn m2. Nếu thành công, năm tới sẽ có 1-2 ao nuôi tôm nổi nữa nhưng diện tích nhỏ hơn” - anh Bình chia sẻ. Kinh nghiệm nuôi tôm thẻ nước lợ của anh Bình là phải diệt khuẩn, sát trùng đáy ao. Nguồn nước phải được xử lý sạch. Quá trình nuôi bổ sung kháng thể thường xuyên cho tôm. Đầu tư hệ thống máy quạt vừa làm mát vừa tạo oxy trong nước giúp tôm sinh trưởng nhanh hơn.

Khác với hình thức nuôi tôm đầu tư bài bản nói trên, anh Trần Hoàng Nghiệp, thạc sĩ kinh tế Trường đại học Tôn Đức Thắng (TP.Hồ Chí Minh), ngụ ấp Vũng Gấm, xã Phước An lại là người nổi tiếng thành công từ phương pháp nuôi tôm sú và cua biển truyền thống. Từ con giống, nuôi cho đến thu hoạch đều thuận theo tự nhiên.

Theo đó, từ tháng 1-7 âm lịch, anh Nghiệp xuống giống hằng tuần theo hình thức gối đầu, việc thu hoạch cũng theo hình thức gối đầu và thường vào thời điểm con nước lên đầu hoặc giữa mỗi tháng. Con giống chủ yếu mua từ những người đánh bắt ngoài sông quanh khu vực, một số ít được nhập từ Cà Mau, Vũng Tàu.

Anh Nghiệp cho biết, tôm sú, cua biển ở đây tự tìm thức ăn trong đầm là cá nhỏ, rong rêu và các sinh vật khác. Vào mùa khô, anh bổ sung thêm thức ăn thiên nhiên như cá, tôm nhỏ khoảng 2-3 lần/tuần để rút ngắn thời gian nuôi. Sau thu hoạch, tôm, cua được bỏ mối cho các nhà hàng hoặc tiểu thương trong vùng. Hiện tại, tôm loại 1 (10 con/kg) giá 650 ngàn đồng/kg và loại nhỏ nhất (30 con/kg) là 250 ngàn đồng/kg; cua gạch 550 ngàn đồng/kg, cua thịt tùy loại có giá từ 200-400 ngàn đồng/kg. Với 7 hécta nuôi tôm, cua, trung bình mỗi năm anh Nghiệp thu nửa tỷ đồng, trong đó chi phí bỏ ra chỉ bằng 1/10.

Cũng theo anh Nghiệp, so với nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm siêu thâm canh thì nuôi tôm truyền thống có nhiều rủi ro hơn khi nguồn nước ô nhiễm hoặc nước có độ mặn cao xâm nhập, mưa lớn hoặc nước dâng đột ngột cũng dễ gây sốc nhiệt làm tôm, cua chết. Tuy nhiên, anh và nhiều hộ nuôi ở đây vẫn trung thành với cách nuôi truyền thống, bởi cách nuôi này đơn giản, chắc ăn, chi phí đầu tư thấp, tiêu thụ khá thuận lợi và có giá cao hơn thủy sản nuôi công nghiệp.

 

Đầu tư theo chiều sâu

Nuôi trồng thủy sản nước lợ, đặc biệt nuôi tôm là lĩnh vực đóng góp nhiều vào sự tăng trưởng của toàn ngành nông nghiệp huyện Nhơn Trạch.

Nhiều nông dân ở Nhơn Trạch đang làm giàu từ mô hình nuôi thủy sản nước lợ
Nhiều nông dân ở Nhơn Trạch đang làm giàu từ mô hình nuôi thủy sản nước lợ

Theo Phòng Kinh tế huyện Nhơn Trạch, 9/2019 tình hình nuôi thủy sản ở địa phương ổn định với tổng diện tích trên 1,9 ngàn hécta, trong đó, hơn 1,8 ngàn hécta diện tích nuôi nước lợ tập trung nhiều ở các xã: Phước An, Đại Phước, Phú Hữu, Vĩnh Thanh...

Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện đang có sự chuyển đổi dần từ hình thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến lên bán thâm canh và thâm canh. Về năng suất, đối với diện tích nuôi tôm thâm canh đem lại lợi nhuận 180 triệu đồng/hécta/vụ (năng suất bình quân 6 tấn/hécta/vụ), nuôi tôm bán thâm canh đem lại lợi nhuận 120 triệu đồng/hécta/vụ (năng suất bình quân 3 tấn/hécta/vụ) và nuôi tôm quảng canh cải tiến đem lại lợi nhuận 20 triệu đồng/hécta/vụ. Nuôi cá nước ngọt đem lại lợi nhuận 40 triệu đồng/hécta/vụ.

Ông Nguyễn Văn Nhân, Quyền Trưởng phòng Kinh tế huyện Nhơn Trạch cho biết, để giúp nông dân địa phương tăng nguồn thu và làm giàu từ nước lợ, huyện đã tiến hành đầu tư một số hạ tầng cho các vùng nuôi như: đường giao thông, cầu giao thông, điện sản xuất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân mở rộng diện tích, tăng cường đầu tư, giảm chi phí trong việc tổ chức sản xuất (giảm 50% chi phí xăng dầu chạy máy bơm tạo oxy).

 

Ngoài ra để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm thủy sản, huyện đang phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai nhân rộng mô hình nuôi tôm công nghiệp kỹ thuật cao tại vùng nuôi tôm xã Phước An; khuyến khích bà con nông dân ở một số địa phương dọc sông Đồng Nai chuyển đổi phần diện tích đất trồng lúa 2 vụ kém hiệu quả sang một vụ lúa hoặc 2 vụ lúa xen kẽ vụ tôm để tăng nguồn thu và tận dụng được nguồn nước nhiễm mặn mùa khô. Mô hình này đang được nhiều nông dân trong xã áp dụng và mang lại hiệu quả kinh tế hơn.

Theo Hoàng Lộc/Báo Đồng Nai
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Cột tin quảng cáo

Có thể bạn quan tâm