Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo để bứt phá tăng trưởng kinh tế
5 nhóm hàng công nghệ kéo xuất khẩu Việt Nam sang Đài Loan lên mức kỷ lục / Cần Thơ: Phát hiện hàng trăm vụ buôn lậu, vi phạm kinh doanh hàng hóa
Khả năng tạo ra công nghệ lõi còn hạn chế
Dẫn đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank) vào năm 2024, ThS Phạm Thành Công - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa ổn định và vẫn thấp hơn các nền kinh tế công nghiệp hóa thành công trong khu vực. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.
Những năm gần đây, Việt Nam đã có bước tiến nhất định trong xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2024 Việt Nam xếp thứ 44/133 nền kinh tế về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), tiếp tục nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình đạt hiệu quả đổi mới cao.
Tuy nhiên, vị trí này chủ yếu phản ánh sự cải thiện về môi trường chính sách, giáo dục và mức độ sẵn sàng công nghệ. Hiệu quả chuyển hóa thành các sản phẩm công nghệ, sáng chế và năng suất lao động vẫn chưa tương xứng. Nói cách khác, Việt Nam làm khá tốt ở "đầu vào" đổi mới nhưng còn yếu ở "đầu ra", tức khả năng tạo ra công nghệ lõi và giá trị gia tăng cao.
Theo chuyên gia, một trong những nguyên nhân quan trọng là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp. Theo OECD (2025), chi tiêu cho R&D của Việt Nam mới đạt khoảng 0,43% GDP, thấp hơn rất nhiều so với Hàn Quốc (4,9%), Nhật Bản (3,3%) hay Trung Quốc (2,4%).

Không chỉ quy mô đầu tư hạn chế, cơ cấu đầu tư cũng bộc lộ nhiều bất cập. Khoảng 73% chi R&D đến từ khu vực doanh nghiệp nhưng chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp FDI. Phần lớn hoạt động nghiên cứu chỉ dừng ở việc tiếp nhận, thích ứng và tối ưu hóa công nghệ nhập khẩu thay vì phát triển công nghệ nền tảng.
Trong khi đó, khu vực viện nghiên cứu và trường đại học chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng chi R&D, kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa hiệu quả. Sự liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học còn lỏng lẻo khiến dòng chảy tri thức và công nghệ chưa thực sự thông suốt.
Nguồn nhân lực nghiên cứu cũng là điểm nghẽn lớn. Theo OECD (2025), Việt Nam hiện chỉ có khoảng 779 nhà nghiên cứu trên một triệu dân, thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Điều này làm hạn chế khả năng tạo ra các đột phá công nghệ trong những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay công nghệ sinh học.
ThS Phạm Thành Công đánh giá, đây là biểu hiện của một hệ thống đổi mới sáng tạo "cải thiện đầu vào nhanh hơn đầu ra", khi năng lực chuẩn bị cho đổi mới được nâng lên nhưng chưa chuyển hóa thành năng lực tạo ra đổi mới thực chất.
Cần một hệ sinh thái chính sách tích hợp
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách bền vững, ThS Phạm Thành Công cho rằng chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được thiết kế như một hệ thống tổng thể thay vì những giải pháp riêng lẻ.
Theo đó, cải cách thể chế phải đi cùng với phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy đầu tư cho R&D, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.
Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh cũng chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ không phải yếu tố tự nhiên mà được quyết định bởi mức đầu tư vào tri thức, chất lượng thể chế và cơ chế khuyến khích đổi mới. Vì vậy, tăng trưởng dài hạn chỉ có thể đạt được khi quốc gia xây dựng được hệ thống đổi mới sáng tạo vận hành hiệu quả.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia thành công đều triển khai chính sách theo hướng tích hợp. Hàn Quốc phát triển dựa trên vai trò dẫn dắt của Nhà nước và đầu tư mạnh cho R&D; Trung Quốc kết hợp quy mô thị trường với chính sách công nghiệp chủ động để hình thành các hệ sinh thái công nghệ; còn Singapore xây dựng lợi thế từ thể chế linh hoạt và chính sách thu hút nhân tài toàn cầu.
Theo chuyên gia, Việt Nam không thể sao chép nguyên mẫu của bất kỳ quốc gia nào, nhưng có thể rút ra bài học chung là vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Điều này đồng nghĩa với việc chính sách tài khóa dành cho R&D phải gắn với chính sách giáo dục đại học; chính sách công nghiệp phải đi cùng phát triển thị trường công nghệ; còn chính sách tài chính cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và startup tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
"Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên vốn sang tăng trưởng dựa trên tri thức; từ chính sách phân tán sang chính sách tích hợp; từ vai trò Nhà nước điều tiết sang Nhà nước kiến tạo. Chỉ khi các trụ cột của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được vận hành đồng bộ, nền kinh tế mới có thể tạo ra bước nhảy về năng suất để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách bền vững", ThS Phạm Thành Công nhấn mạnh.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








