Vì sao hàng nghìn nghiên cứu chưa tạo được dòng tiền tương xứng?
Cần có giải pháp cụ thể để nhà sáng chế "nông dân" có thể thương mại hóa sản phẩm / Đà Nẵng: Fujikin (Nhật Bản) sẵn sàng thương mại hóa sản phẩm từ các dự án nghiên cứu khoa học
Nghịch lý giữa tiềm lực học thuật và “cơn khát” công nghệ
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng cho biết, khối giáo dục đại học hiện là lực lượng nghiên cứu khoa học lớn nhất của cả nước với khoảng 95.000 giảng viên, gần 64.000 nghiên cứu sinh và đóng góp trên 83% tổng số công bố quốc tế của Việt Nam. Riêng năm 2025, các trường đại học đã đóng góp 21.014 công bố Scopus (chiếm 83,61% cả nước) và nộp 496 đơn đăng ký sáng chế.

Thứ trưởng Phạm Quang Hưng tham dự hội nghị trực tuyến toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN).
Thực tế khảo sát 211 cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cho thấy, rào cản lớn nhất hiện nay trong liên kết 3 nhà không còn nằm ở chủ trương mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Toàn bộ các vướng mắc tập trung vào 4 câu hỏi lớn chưa có lời giải đầy đủ: ai đặt hàng và trả tiền; tiền đi qua kênh nào; ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro; và ai điều phối, đo lường kết quả?
Sự liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp còn sáu điểm nghẽn chính: đặt hàng chưa gắn với kinh phí, sản phẩm và cam kết tiếp nhận; thiếu nguồn vốn đối ứng và tài trợ cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, thương mại hóa; cơ chế quản lý tài sản công, định giá tài sản trí tuệ chưa rõ ràng, khiến người đứng đầu e ngại trách nhiệm.
Bên cạnh đó, các đơn vị trung gian và đội ngũ chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp còn thiếu; hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp còn ít, phân tán, chênh lệch giữa các vùng; thiếu cơ chế điều phối liên ngành, dữ liệu cùng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất. Những hạn chế này khiến nguồn lực nghiên cứu chưa được kết nối hiệu quả với nhu cầu thực tiễn, nhiều kết quả khoa học khó vượt qua giai đoạn hoàn thiện công nghệ để đi vào sản xuất và thị trường.
Đề xuất 7 mô hình liên kết
Để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất 7 mô hình hợp tác trọng tâm, vận hành trên 3 nguyên tắc nền tảng: Thực chất, không hình thức (phải có hợp đồng quy định rõ tiền, người, mốc tiến độ và sản phẩm, không có hợp đồng thì không tính là kết quả); Ngân sách là vốn mồi (tiền đối ứng của doanh nghiệp vào trước, ngân sách nhà nước giải ngân theo mốc); Có môi trường thử nghiệm có kiểm soát (mỗi mô hình có phạm vi, thời hạn, điều kiện dừng và rủi ro khách quan được chấp nhận theo luật).

Ảnh minh họa.
Song song với đó, Bộ đề xuất đầu tư 20-25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc tại các trường đại học trọng điểm. Mỗi trung tâm phải có chương trình nghiên cứu dài hạn gắn với một bài toán chiến lược, có doanh nghiệp đối tác tham gia, được trao quyền tự chủ cao và được đánh giá theo kết quả đầu ra; đồng thời nâng cấp các mạng lưới hiện có thành mô hình “đào tạo - nghiên cứu - sản phẩm”.
Một giải pháp khác là nhân rộng mô hình “khách hàng công”, trong đó các bộ, ngành và tập đoàn nhà nước chủ động công bố bài toán công nghệ, cung cấp môi trường thử nghiệm và cam kết tiếp nhận sản phẩm khi đáp ứng yêu cầu, thay vì ấn định sẵn giải pháp kỹ thuật.
Đối với doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), Bộ đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cấp phép khai thác tài sản trí tuệ làm phương án mặc định, sau đó định giá, đồng thời áp dụng các mốc kiểm soát, cơ chế “vùng an toàn trách nhiệm” và cho phép sử dụng hạ tầng của trường với điều kiện ưu đãi.
Bộ cũng kiến nghị phát triển công viên khoa học, công nghệ và trung tâm đổi mới sáng tạo trong các đô thị đại học, hình thành không gian “lab-to-market” với đầy đủ văn phòng chuyển giao công nghệ, quỹ chứng minh khái niệm, phòng thí nghiệm dùng chung, vườn ươm và quỹ đầu tư.
Ở cấp địa phương, mô hình đặt hàng kép sẽ được nhân rộng, trong đó địa phương công bố bài toán phát triển, ký hợp đồng với trường đại học và khuyến khích doanh nghiệp đồng tài trợ. Các đại học quốc gia, đại học vùng đóng vai trò hạt nhân liên kết, đồng thời thí điểm mô hình "vị trí nhà khoa học do địa phương và doanh nghiệp hỗ trợ", trong đó địa phương và doanh nghiệp đặt bài toán và tài trợ trọn gói một vị trí giáo sư, nhà khoa học trong 5-10 năm.
Cuối cùng, Bộ đề xuất đào tạo nhân lực trình độ cao theo đặt hàng, gắn với các dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân và bán dẫn, mở rộng mô hình học - làm tích hợp, học kỳ doanh nghiệp và đồng hướng dẫn giữa giảng viên với chuyên gia doanh nghiệp.
End of content
Không có tin nào tiếp theo




