Hiệp định CPTPP

Phần lớn DN 100% vốn Nhà nước đứng ngoài những tác động của CPTPP

DNVN - Thông tin này đã được đưa ra tại Hội thảo hai năm thực thi Hiệp định CPTPP tại Việt Nam - Đánh giá từ góc nhìn doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức sáng 7/4 tại Hà Nội.

Thực thi FTA: Không thể 'đầu voi, đuôi chuột' / Hàn Quốc sẽ tích cực xem xét việc tham gia CPTPP trong năm nay


CPTPP là một trong những FTA thu hút sự quan tâm của các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp (DN). Với Việt Nam, tính từ thời điểm hiệp định có hiệu lực vào ngày 14/01/2019, chúng ta đã trải qua hơn hai năm thực thi. Theo đó, Việt Nam đã đạt một số kết quả thực tế trước những thách thức và cơ hội. Hội thảo sáng nay tập trung đánh giá và thảo luận ở hai góc độ: thương mại hàng hóa và cảm nhận của doanh nghiệp.

Dư địa tăng trưởng XK sang thị trường CPTPP còn rất lớn

Bà Nguyễn Cẩm Trang - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết: Năm 2019, xuất khẩu sang 6 nước đã phê chuẩn CPTPP (Canada, Mexico, Nhật Bản, New Zealand, Singapore, Australia) đạt 34,3 tỷ USD, tăng 8,1%. Năm 2020, xuất khẩu sang 6 nước đã phê chuẩn CPTPP duy trì ở mức gần tương đương 2019, đạt 34 tỷ USD.

Trong năm 2019, xuất khẩu sang các đối tác này đều ghi nhận tăng trưởng, ngoại trừ XK sang Australia đạt 3,53 tỷ USD, giảm 11,1% so với năm 2018.


Quang cảnh hội thảo.

"Kết quả đạt được trong hai năm 2019 và 2020 là cơ sở để chúng ta có thể khẳng định rằng việc CPTPP có hiệu lực từ năm 2019 đã góp phần không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Nếu không có CPTPP thì mức sụt giảm trong năm 2020 sang một số thị trường còn cao hơn rất nhiều", bà Trang nhận định.

Mặc dù vậy, theo đánh giá của bà Trang, rất khó để phân tách hay định lượng mức tăng trưởng đó đến từ CPTPP hay từ các yếu tố khác, đến từ hiệp định này hay hiệp định khác, hay đến từ yếu tố này hay yếu tố khác. Bởi vì trong số 6 đối tác trên, đã có 4 nước đã là đối tác của Việt Nam trong các FTA khác; Xung đột thương mại Mỹ - Trung dẫn đến một số đơn hàng từ Bắc Mỹ được dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam và nước ta đã tận dụng được cơ hội này; Nhiều mặt hàng thuế MFN 0% vẫn tăng trưởng tốt; Tác động của Covid -19 đến xuất khẩu năm 2020".

Trong so sánh với mặt bằng chung, lợi ích từ CPTPP còn khiêm tốn. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi các thị trường CPTPP (7,2%) thấp hơn so với mức 8,4% tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi toàn thế giới trong cùng thời kỳ. Hơn nữa, với một số thị trường CPTPP, đà tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn trước khi có CPTPP vốn cũng đã ở mức cao hơn đáng kể so với trung bình xuất khẩu đi các thị trường khác, cho thấy CPTPP dường như chỉ có tác động bổ trợ nào đó cho đà tăng tự nhiên này.

Theo đánh giá của bà Nguyễn Cẩm Trang, dư địa để tiếp tục tăng trưởng XK sang thị trường CPTPP còn rất lớn bởi thị phần hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các nước đối tác CPTPP phần lớn còn thấp. Cụ thể Nhật Bản chiếm 3,1%, Australia chiếm 1,9%, New Zealand chiếm 1,6%, Canada chiếm 1,1%, và Singapore chiếm 1%.

Một điểm đáng chú ý là tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan CPTPP của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam năm 2019 chỉ đạt 1,67%, mức rất thấp không chỉ so với mức trung bình năm 2019 (37,2%) mà còn so với tỷ lệ tận dụng năm đầu tiên của nhiều FTA khác. Đây là chỉ dấu rất đáng quan ngại, cho thấy khả năng hiện thực hóa các lợi ích xuất khẩu trực tiếp từ Hiệp định này của Việt Nam còn hạn chế.

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, xuất khẩu của Việt Nam đi các thị trường đã phê chuẩn CPTPP chỉ đạt kim ngạch xấp xỉ 2019. Tuy nhiên, tín hiệu tích cực là tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan CPTPP trong năm thứ 2 này đã được cải thiện, đạt 4% trong trung bình, riêng với các thị trường mới là Canada và
Mexico là 17%.

Phần lớn DN 100% vốn Nhà nước đứng ngoài những tác động của CPTPP

Dẫn số liệu khảo sát của VCCI về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp đối với CPTPP, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết: 69% doanh nghiệp nghe nói hoặc biết sơ bộ về Hiệp định này, cao hơn tất cả các FTA khác, 25% doanh nghiệp có hiểu biết nhất định về Hiệp định. Tuy nhiên, cứ 20 doanh nghiệp mới có 1 doanh nghiệp biết rõ về các cam kết CPTPP liên quan tới hoạt động kinh doanh của mình.

"Kết quả này cho thấy các nỗ lực tuyên truyền phổ biến chung về CPTPP đã có hiệu quả ban đầu tích cực nhưng mới trên bề mặt là chủ yếu. Với một FTA khó và phức tạp như CPTPP, cần thiết phải có những biện pháp thông tin chuyên sâu, chi tiết và hữu ích hơn cho doanh nghiệp trong thời gian tới", bà Trang chia sẻ.


Theo khảo sát của VCCI, phần lớn DN 100% vốn Nhà nước đứng ngoài những tác động của CPTPP. (Ảnh minh họa)

Về các tác động tổng thể, CPTPP nằm trong tốp 3 FTA được doanh nghiệp tham gia Khảo sát đánh giá cao nhất, với 51% doanh nghiệp cho rằng Hiệp định có tác động tương đối hoặc rất tích cực với hoạt động kinh doanh của mình thời gian qua. Với một Hiệp định mới chỉ có hiệu lực hơn một năm rưỡi, lộ trình thuế quan hầu như chưa có lợi thế so với các FTA đã có, đây là kết quả lạc quan một cách bất ngờ.

Theo bà Trang, một thực tế bất ngờ khác nhưng không mấy lạc quan cũng được hé lộ từ đánh giá của doanh nghiệp về tác động chung của CPTPP. Trong khi các doanh nghiệp FDI và dân doanh có cảm nhận rõ nét về tác động của CPTPP (với 51-52% doanh nghiệp của các nhóm này cho rằng CPTPP có tác động tích cực và lần lượt 6,8% và 2,2% đánh giá CPTPP có tác động tiêu cực) thì khối doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước phần lớn đứng ngoài những tác động này (với 64% doanh nghiệp nhóm này cho rằng CPTPP không tác động gì – với các FTA khác cũng như vậy).

"Dường như quá trình hội nhập theo chiều sâu thông qua CPTPP và các FTA chưa chạm tới khu vực doanh nghiệp này. Đây là điều hơi tiếc nuối", bà Trang chia sẻ.

Cũng theo kết quả khảo sát của VCCI, với ¾ các doanh nghiệp chưa từng hưởng lợi ích trực tiếp nào từ CPTPP, lý do chủ yếu (60%) là họ không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào liên quan tới thị trường hay đối tác ở khu vực CPTPP trong hai năm vừa qua. Thực tế này không gây ngạc nhiên (khi CPTPP không phải là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Với ¾ các doanh nghiệp chưa từng hưởng lợi ích trực tiếp nào từ CPTPP, lý do chủ yếu (60%) là họ không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào liên quan tới thị trường hay đối tác ở khu vực CPTPP trong hai năm vừa qua; trong số các doanh nghiệp đã từng có giao dịch với các thị trường này nhưng chưa hưởng lợi CPTPP, lý do được phần lớn (75%) doanh nghiệp đề cập là họ không biết có cơ hội nào từ CPTPP. Cũng có một tỷ lệ đáng kể (60%) không thấy có cam kết CPTPP liên quan hoặc do đã hưởng ưu đãi khác phù hợp hơn.

Sự chủ động của DN là rất cần thiết

Tại hội thảo, các diễn giả đã đưa ra nhiều kiến nghị, đề xuất với Chính phủ cùng các bộ, ngành, cũng như cộng đồng doanh nghiệp. Với Chính phủ, và các bộ, ngành, ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch VCCI đề xuất, các chương trình, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào các hoạt động thực chất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, xúc tiến thương mại ở tầm quốc gia một cách hệ thống đặc biệt là ở các thị trường mới, cập nhật thông tin thị trường và kết nối cung cầu.

Ngoài ra, theo Chủ tịch VCCI, các hoạt động này cũng cần được thiết kế theo nhóm đối tượng riêng, với ưu tiên đặc biệt dành cho các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.

Trong khi đó, bà Nguyễn Cẩm Trang đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường hiệu quả công tác thực thi hiệp định, xây dựng, sửa đổi những văn bản pháp luật liên quan; Thông tin, truyền thông về CPTPP chuyên sâu, theo ngành, lĩnh vực và thị trường trọng điểm. Ngoài ra, cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ; đồng thời đẩy mạnh đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu đáp ứng quy tắc xuất xứ. Việc tiết giảm chi phí ngoài sản xuất, nhất là các chi phí logistics cũng được bà Cẩm Trang đưa ra.

Kiến nghị với cộng đồng doanh nghiệp, các diễn giả đều có chung quan điểm, việc doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tìm hiểu cơ hội, cam kết Hiệp định CPTPP và hành động hiện thực hóa lợi ích từ Hiệp định là đòi hỏi quan trọng nhất. Cùng đó, nâng cao năng lực cạnh tranh mà bắt đầu tư năng lực cạnh tranh của sản phẩm không chỉ là công việc thường xuyên mà còn là chìa khóa để doanh nghiệp chớp được các cơ hội từ quá trình hội nhập.

Bà Nguyễn Cẩm Trang khuyến nghị DN cần chủ động tìm hiểu các cơ hội ưu đãi, thay đổi tư duy kinh doanh, cải thiện năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, DN cần nghiên cứu kỹ thị trường, tìm hiểu kỹ thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Thêm vào đó, cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển.


Nguyệt Minh
 
Loading...
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Xem nhiều nhất

Cột tin quảng cáo

Có thể bạn quan tâm