Đưa doanh nghiệp vào trung tâm nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy phát triển công nghệ chiến lược, hướng tới thương mại hóa sản phẩm / Thương mại hóa nghiên cứu đại học: Bài toán vượt 'thung lũng tử thần' bằng hệ sinh thái chuyên nghiệp
Chỉ 12% nhiệm vụ khoa học quốc gia có doanh nghiệp tham gia
Tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện, trường với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chỉ ra khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường vẫn lớn.
Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, giai đoạn 2021-2025, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, 11% nhiệm vụ cấp địa phương và 6% nhiệm vụ do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ tài trợ có sự tham gia của doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu tại hội nghị.
Trong khi đó, chi nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp dành cho các viện, trường chỉ chiếm 0,72% tổng chi R&D của doanh nghiệp và đóng góp 2,1% tổng kinh phí nghiên cứu của các cơ sở này. Khu vực doanh nghiệp có 333 nhà nghiên cứu trình độ tiến sĩ, trong khi khoảng 21.000 tiến sĩ làm việc tại viện nghiên cứu, trường đại học.
“Nếu kéo dài thực trạng này thì sao có thể tạo được động lực tăng trưởng mới dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số?”, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng trăn trở.
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định đã xác định 7 điểm nghẽn chủ yếu trong liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp.
Thứ nhất, nghiên cứu chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu ứng dụng và chưa gắn chặt với trách nhiệm tiếp nhận.
Thứ hai, nguồn lực chưa được kết nối liên tục để hoàn thiện công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Nhiều kết quả mới ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu dữ liệu vận hành, thiết kế sản xuất, hồ sơ tiêu chuẩn và chứng nhận. Doanh nghiệp phải đầu tư thêm nhưng chưa chứng minh được độ tin cậy, giá thành, khả năng tiêu thụ nên khó huy động vốn. Doanh nghiệp cũng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, dữ liệu chứng minh dòng tiền và căn cứ định giá tài sản trí tuệ.
Thứ ba, quyền tự chủ chưa được thực hiện đầy đủ; tâm lý e ngại trách nhiệm và cách xử lý rủi ro còn cản trở hợp tác. Một số viện, trường còn áp dụng cách quản lý cũ đối với kết quả có nguồn gốc ngân sách, lo ngại quyết định khai thác, định giá, góp vốn bị xem xét lại khi thanh tra, kiểm toán, dẫn đến tình trạng "được quyền nhưng chưa dám quyết".
Thứ tư, thiếu đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp và điều kiện khai thác hạ tầng dùng chung thuận tiện. Hoạt động kết nối có nơi thiên về giới thiệu, chưa hỗ trợ các bên hoàn tất giao dịch, nên số giao dịch thành công còn khiêm tốn so với quy mô công nghệ chào bán.
Thứ năm, động lực chuyển giao của viện, trường và năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.
Thứ sáu, sản phẩm mới khó tiếp cận khách hàng đầu tiên; việc theo dõi hiệu quả ứng dụng chưa thường xuyên.
Thứ bảy, cơ chế phân bổ nguồn lực chưa gắn với điều kiện và kết quả hợp tác.
Sáu nhóm giải pháp thúc đẩy liên kết viện, trường, doanh nghiệp
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất triển khai đồng bộ sáu nhóm giải pháp, tập trung vào ba hướng chính: hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và thực thi chính sách; tăng liên kết từ nghiên cứu đến tiếp nhận, thương mại hóa; và đo lường hiệu quả hợp tác bằng kết quả thực tế.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại hội nghị.
Thứ hai là triển khai thực chất các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia và thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba là thúc đẩy liên kết viện, trường và doanh nghiệp, củng cố các đầu mối chuyển giao công nghệ, thương mại hóa tại viện, trường, địa phương, hiệp hội. Phát triển sàn Techmartvietnam.vn thành nền tảng số quốc gia kết nối các sàn địa phương.
Thứ tư là đặt doanh nghiệp vào trung tâm nhiệm vụ khoa học, công nghệ, bảo đảm doanh nghiệp tham gia xuyên suốt từ xác định bài toán đến nghiên cứu, thử nghiệm, tiếp nhận và ứng dụng kết quả.
Thứ năm, đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Hoàn thiện cơ chế sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích, kết nối đầu tư, hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm và thúc đẩy mua sắm công đối với sản phẩm khoa học, công nghệ trong nước.
Thứ sáu, đo lường hiệu quả liên kết bằng chỉ số cụ thể. Xây dựng hệ thống 10 chỉ số đánh giá nguồn lực, kết quả chuyển giao và mức độ ứng dụng thực tế, làm cơ sở chuẩn hóa việc đo lường kết quả và hiệu quả hợp tác giữa viện, trường với doanh nghiệp.
End of content
Không có tin nào tiếp theo




