Khoa học - Công nghệ

Sếp Daikin: Thị trường điều hòa không khí đang phải thay đổi trước yêu cầu tiết kiệm năng lượng

DNVN - Theo bà Nguyễn Thị Lệ Thanh - Giám đốc Công ty Daikin Air Conditioning Việt Nam, công nghệ và thị trường điều hòa không khí đang thay đổi nhanh trước yêu cầu tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao hiệu quả chi phí vận hành.

Việt Nam - Nhật Bản thúc đẩy hợp tác AI, công nghệ chiến lược / Bộ Khoa học và Công nghệ có tân Thứ trưởng

Chuyển đổi công nghệ không chỉ là thay môi chất lạnh

Nhu cầu làm mát ngày càng tăng đang đặt ra yêu cầu chuyển đổi công nghệ đối với ngành điều hòa không khí. Không chỉ phải đáp ứng nhu cầu tiện nghi của người sử dụng, thiết bị làm mát còn phải tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và hạn chế tác động đến môi trường.

Tại tọa đàm trực tuyến ngày 14/9 với chủ đề: "Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn", bà Nguyễn Thị Lệ Thanh - Giám đốc Công ty Daikin Air Conditioning Việt Nam nhấn mạnh, công nghệ và thị trường điều hòa không khí đang thay đổi nhanh trước yêu cầu tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao hiệu quả chi phí vận hành.

Từ góc độ doanh nghiệp, xu hướng này đang thúc đẩy các nhà sản xuất đầu tư vào công nghệ hiệu suất cao, như công nghệ Inverter, hệ thống điều khiển thông minh tích hợp AI và các cảm biến tối ưu hóa vận hành.

Cùng với đó là chuyển đổi sang các môi chất lạnh có chỉ số GWP thấp (tiềm năng gây nóng lên toàn cầu thấp). Tại nhà máy Daikin Việt Nam, 100% sản phẩm điều hòa dân dụng sử dụng môi chất lạnh R32 và hơn 95% sản phẩm sử dụng công nghệ biến tần.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chuyển đổi công nghệ không thể chỉ được nhìn ở việc thay một loại môi chất lạnh bằng loại khác.

PGS, TS Nguyễn Việt Dũng - Phó hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng nâng cao hiệu suất năng lượng của thiết bị là một mắt xích quan trọng trong quá trình giảm tiêu thụ điện và phát thải khí nhà kính.


Hệ thống làm mát bằng máy làm lạnh trực tiếp Air Cooler.

Người tiêu dùng hiện vẫn thường quan tâm đến giá mua, khả năng làm lạnh và thương hiệu khi lựa chọn điều hòa. Tuy nhiên, nếu tính trong vòng đời sử dụng 10-15 năm, một thiết bị có hiệu suất cao dù giá ban đầu lớn hơn vẫn có thể giúp giảm đáng kể chi phí điện năng.

Theo tính toán của ông Dũng, nếu tính cả chi phí phát thải khí nhà kính và chi phí đầu tư, chi phí vòng đời trong quá trình vận hành chiếm khoảng 70%. Vì vậy, việc nâng hiệu suất thiết bị có ý nghĩa không chỉ với môi trường mà còn với chi phí của người sử dụng.

Song, hiệu quả năng lượng không chỉ đến từ bản thân chiếc điều hòa. Theo PGS, TS Nguyễn Việt Dũng, cần bắt đầu từ quy hoạch và thiết kế công trình, với các giải pháp như hạn chế bức xạ mặt trời, tăng thông gió tự nhiên, tận dụng ánh sáng tự nhiên, bố trí cây xanh, mặt nước và nâng khả năng cách nhiệt của công trình.

Khi nhu cầu làm mát được giảm ngay từ khâu thiết kế, quy mô thiết bị và lượng điện tiêu thụ cũng có thể giảm theo. Sau đó, hệ thống kỹ thuật cần được thiết kế phù hợp với yêu cầu tiết kiệm năng lượng và sử dụng công nghệ làm mát thân thiện với môi trường.

Đặc biệt, sự xuất hiện của các môi chất lạnh thế hệ mới cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về an toàn. Một số môi chất có khả năng cháy cao hơn, đòi hỏi kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và người lắp đặt, bảo dưỡng phải được nâng cấp kiến thức, kỹ năng.

Từ đó, ông Dũng cho rằng cần nhìn toàn bộ chuỗi, từ quy hoạch đô thị, thiết kế công trình, các giải pháp làm mát thụ động đến thiết kế hệ thống, lựa chọn công nghệ, sử dụng và cuối cùng là quản lý vòng đời môi chất lạnh. Đây cũng là lý do chuyển đổi công nghệ đang trở thành bài toán không chỉ của nhà sản xuất mà của toàn bộ hệ sinh thái ngành làm mát.

Doanh nghiệp cần được hỗ trợ để chuyển đổi

Ở góc độ quản lý, bà Nguyễn Đặng Thu Cúc - Điều phối viên Ozone quốc gia, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng Việt Nam đã có khung chính sách tương đối đầy đủ về quản lý vòng đời, lộ trình chuyển đổi công nghệ, hạn ngạch sử dụng môi chất lạnh và thay thế môi chất lạnh trong từng lĩnh vực.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực thi vẫn là vấn đề cần giải quyết. Đặc biệt, bà Cúc nhấn mạnh chuyển đổi công nghệ không đơn thuần là thay môi chất lạnh mà còn liên quan đến thiết kế lại thiết bị. Chẳng hạn, với lĩnh vực điều hòa không khí di động, việc chuyển từ R134A sang môi chất lạnh HFO đòi hỏi các nhà sản xuất ô tô ít nhất 5 năm, thậm chí lâu hơn, để thay đổi thiết kế.


Hoạt động thu hồi môi chất lạnh. Ảnh: Cục Biến đổi khí hậu.

Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi có thể kéo dài và đòi hỏi nguồn lực lớn. Trước đây, cơ quan quản lý từng thực hiện dự án sử dụng nguồn vốn nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, song chi phí doanh nghiệp phải bỏ thêm vẫn rất lớn.

Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, bài toán này càng khó khăn hơn. Do đó, theo bà Cúc, Nhà nước cần có chính sách và cơ chế hỗ trợ phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp tiên phong chuyển đổi công nghệ.

Bên cạnh chuyển đổi công nghệ, các giải pháp thụ động từ khâu thiết kế công trình cũng cần được chú trọng để giảm nhu cầu làm mát. Việc kết hợp chuyển đổi môi chất lạnh theo Bản Sửa đổi, bổ sung Kigali với các giải pháp nâng cao hiệu suất năng lượng có thể tạo ra hiệu quả lớn hơn trong giảm tiêu thụ năng lượng và phát thải.

Một vấn đề khác cần được giải quyết là quản lý vòng đời môi chất lạnh. Theo quy định hiện nay, môi chất lạnh không còn sử dụng được khuyến khích thu gom, tái sử dụng hoặc tái chế; chỉ khi không thể tái chế, tái sử dụng mới đưa đi tiêu hủy.

Tuy nhiên, việc thu gom trên thực tế còn nhiều khó khăn. Thiết bị điều hòa có vòng đời từ 15-20 năm, thậm chí lâu hơn đối với thiết bị lớn, khiến việc xác định các thiết bị đã bán từ nhiều năm trước và chủ sở hữu hiện tại không dễ dàng.

Chi phí thu gom cũng chưa tạo đủ động lực. Người dân có thể bán thiết bị cho cơ sở thu mua phế liệu với giá cao hơn, trong khi chi phí thu gom môi chất lạnh chưa tương xứng.

Theo bà Cúc, từng có đề xuất lồng ghép trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đối với thiết bị và đưa một phần chi phí vào giá trị ban đầu khi bán sản phẩm. Tuy nhiên, phương án này liên quan đến nhiều chính sách khác nên không dễ thực hiện.

Từ những vấn đề trên, các chuyên gia cho rằng làm mát bền vững không thể là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp sản xuất. Đây là quá trình đòi hỏi sự tham gia của nhà nghiên cứu, doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, đội ngũ kỹ thuật viên và người sử dụng, bên cạnh cơ quan quản lý.

Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đưa công nghệ mới vào thực tế, nhưng để quá trình chuyển đổi diễn ra rộng hơn, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp, nguồn nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu mới và sự tham gia của người sử dụng trong lựa chọn, vận hành thiết bị.

"Nhà nước không thể thực hiện quá trình này một mình. Mỗi chủ thể trong chuỗi, từ nghiên cứu, sản xuất, chuyển đổi công nghệ, kỹ thuật đến sử dụng, đều có phần việc riêng để hướng tới một hệ thống làm mát hiệu quả và bền vững hơn", bà Cúc nhấn mạnh.

Nguyệt Minh
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm