Sức ép chuyển đổi xanh lan rộng qua chuỗi cung ứng
TP Hồ Chí Minh xây bộ tiêu chí riêng cho khách sạn thông minh, xanh và độc đáo / Lâm nghiệp, thủy sản tạo động lực phát triển kinh tế xã Nguyễn Phích
2 bài toán lớn với doanh nghiệp
Tại hội thảo “Áp lực CBAM, ESG và tiêu chuẩn xanh toàn cầu: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khu công nghiệp” sáng 26/8 tại Hà Nội, ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng, yêu cầu xanh hóa, chuyển đổi xanh đang ngày càng tác động trực tiếp đến các khu công nghiệp.
Tiêu biểu là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), chính thức được áp dụng từ ngày 1/1/2026 đối với một số nhóm ngành phát thải cao như thép, nhôm, xi măng, phân bón và điện năng.
Dù tiến độ áp dụng và tiêu chuẩn đối với từng nhóm hàng vẫn đang được EU tiếp tục điều chỉnh, doanh nghiệp cần bám sát các thay đổi để chủ động chuẩn bị từ sớm.
Trong khi đó, xu hướng xanh hóa không chỉ đến từ EU. Trong chuyến xúc tiến thương mại và đầu tư tại Hàn Quốc tháng 7 vừa qua, Cục Xúc tiến thương mại nhận thấy các yêu cầu về xanh hóa đang nhanh chóng trở thành một xu thế mới.
Hàn Quốc, một trong những quốc gia có lượng đầu tư lớn tại Việt Nam, đã thông qua các quy định liên quan đến CBAM và tiêu chuẩn xanh ESG trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp nước này. Dự kiến từ khoảng năm 2028, các quy định này sẽ được áp dụng trước đối với các tập đoàn Chaebol lớn như Samsung, LG, Hyundai và Kia.

“Điều này cho thấy áp lực chuyển đổi xanh đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đến trực tiếp từ các thị trường xuất khẩu, mà còn có thể lan tỏa thông qua chuỗi cung ứng và các doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam”, ông Hải nêu.
Từ các tập đoàn đầu tàu, yêu cầu xanh hóa sẽ tiếp tục lan tỏa xuống hệ sinh thái doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Sau đó, các tiêu chuẩn này có thể được mở rộng tới doanh nghiệp Hàn Quốc ở nước ngoài, trong đó có các nhà máy tại các khu công nghiệp Việt Nam, với lộ trình có thể đến khoảng năm 2031.
Từ thực tế xúc tiến đầu tư và thương mại, ông Hải chỉ ra hai vấn đề lớn mà doanh nghiệp và khu công nghiệp cần giải quyết.
Thứ nhất là hạ tầng xanh, đặc biệt là năng lượng tái tạo và hệ thống lưới điện. Hiện một số doanh nghiệp đã quan tâm đến môi trường xanh, trong khi nhiều doanh nghiệp tập trung vào việc sử dụng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, chi phí năng lượng tái tạo vẫn cao hơn năng lượng thông thường, trong khi cơ chế về lưới điện và mua bán điện vẫn là vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Thứ hai là bài toán thị trường. Doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư để đáp ứng các yêu cầu xanh nhưng sản phẩm có được thị trường chấp nhận với mức giá cao hơn hay không vẫn là câu hỏi lớn.
“Doanh nghiệp đã đầu tư để đáp ứng các yêu cầu xanh thì thị trường nào chấp nhận mức giá cao hơn? Đây là vai trò rất quan trọng của công tác xúc tiến thương mại trong thời gian tới, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp bán được các sản phẩm xanh”, ông Hải cho biết.
Nếu chỉ yêu cầu doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi mà không đồng thời tạo được thị trường cho sản phẩm xanh, bài toán hiệu quả sẽ rất khó giải quyết.
Doanh nghiệp cần chuyển đổi từng bước
Trong định hướng thực hiện Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Công Thương được giao triển khai chương trình Go Global. Chương trình tập trung vào hai mục tiêu lớn là phát triển sản phẩm Việt Nam có thương hiệu tại nước ngoài và tăng cường hội nhập, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
Các mục tiêu này ngày càng gắn chặt với tiêu chuẩn xanh, nhất là tại những thị trường có giá trị gia tăng cao như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Canada.
Bên cạnh yêu cầu về thuế quan, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến quy tắc xuất xứ, trách nhiệm môi trường - xã hội và mô hình sản xuất, cung ứng xanh trong toàn bộ mạng lưới từ sản xuất, phân phối đến bán lẻ.
Đặc biệt, chương trình hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, áp dụng ESG trong thương mại quốc tế, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon và kinh tế tuần hoàn.
Trong bối cảnh này, theo Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và đầu tư, doanh nghiệp không nên chuyển đổi toàn bộ ngay lập tức, bởi điều này tạo áp lực rất lớn về vốn. Thay vào đó, cần xác định những khâu có thể triển khai trước, chi phí phù hợp và mang lại hiệu quả, sau đó từng bước mở rộng ra toàn chuỗi giá trị.
“Chỉ có nhận thức đầy đủ thì chúng ta mới triển khai được khâu nào làm trước, khâu nào thuận lợi, chi phí phải chăng và thực hiện hiệu quả ngay”, ông Hải nhấn mạnh.
Cho rằng khu công nghiệp có vai trò tạo nền tảng, môi trường và dịch vụ cho quá trình xanh hóa, nhưng ông Hải nhìn nhận doanh nghiệp mới là chủ thể quyết định việc chuyển đổi.
Doanh nghiệp và khu công nghiệp được khuyến nghị nâng cao nhận thức, xây dựng hệ thống thông tin và bắt đầu kiểm kê phát thải khí nhà kính ngay từ bây giờ. Đây là những công việc chưa đòi hỏi chi phí quá lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chuẩn bị. Nếu chờ đến khi các quy định chính thức áp dụng mới bắt đầu triển khai thì sẽ quá muộn.
Doanh nghiệp cũng cần tận dụng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của Nhà nước, các bộ, ngành và tổ chức quốc tế; đồng thời tăng cường liên kết theo chuỗi cung ứng trong khu công nghiệp để phát triển hạ tầng xanh, hạ tầng năng lượng tái tạo. Điện mặt trời áp mái tại nhà xưởng là một trong những hướng có thể được tận dụng để bổ sung nguồn điện cho khu công nghiệp.
“CBAM và các tiêu chuẩn xanh toàn cầu đang đặt ra sức ép không nhỏ, nhưng đồng thời mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tái cơ cấu theo hướng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, các khu công nghiệp cần từng bước chuẩn bị và chuyển đổi hạ tầng ngay từ sớm”, đại diện Cục Xúc tiến thương mại khuyến nghị.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








