Xuất nhập khẩu vượt 888 tỷ USD: Làm sao để doanh nghiệp Việt hưởng lợi nhiều hơn?
Đổi mới sáng tạo cần chuyển hóa thành năng suất và năng lực cạnh tranh / 9 tháng Đà Nẵng đón gần 16 triệu lượt khách, doanh thu 57.000 tỷ đồng
Từ tăng kim ngạch đến nâng cao giá trị gia tăng
Chia sẻ tại tọa đàm “Nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương” ngày 9/10, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt hơn 453 tỷ USD, tăng 36,7%. Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào phục vụ sản xuất đang mở rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng cung ứng trong nước để gia tăng giá trị tạo ra từ hoạt động thương mại.
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo. Máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc, điện thoại và linh kiện vẫn là những nhóm hàng quan trọng.
Ở chiều nhập khẩu, hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.
“Như vậy, đối với các mặt hàng xuất khẩu hay các mặt hàng nhập khẩu, hiện nay chúng ta đang nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để phục vụ sản xuất”, bà Hiền nhận định.

Tỷ trọng lớn của hàng tư liệu sản xuất cho thấy nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng tăng trưởng, vấn đề không chỉ là mở rộng quy mô nhập khẩu hay xuất khẩu, mà còn là khả năng chuyển hóa máy móc, nguyên vật liệu và công nghệ thành sản phẩm có giá trị cao hơn, đồng thời tăng phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra.
Theo ông Phan Đức Hiếu - đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, yêu cầu quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu là gia tăng giá trị, đặc biệt đối với doanh nghiệp trong nước. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng khả năng cung ứng nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và nâng cao năng lực để trực tiếp tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế.
Các chủ trương và định hướng đã tương đối rõ, nhưng điều quan trọng là phải chuyển thành những chương trình triển khai cụ thể. Bên cạnh hoàn thiện chính sách, cần thúc đẩy kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất.
“Xét về bản chất, xuất khẩu hay nhập khẩu không chỉ là mở rộng thị trường mà trước hết phải dựa trên năng lực sản xuất ra những sản phẩm thực sự có chất lượng và sức cạnh tranh. Vì vậy, các chương trình nâng cao năng lực sản xuất cần được coi là giải pháp căn bản”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị và tư liệu sản xuất cũng mở ra cơ hội phát triển năng lực sản xuất trong nước. Do vậy, cần có các giải pháp dài hạn để biến cơ hội từ nhập khẩu thành động lực nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết với FDI
Thực tế ngành điện tử cho thấy rõ bài toán này. Đây là ngành có độ mở lớn, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và có sự hiện diện đáng kể của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) - doanh nghiệp cần đầu tư vào tự động hóa, số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu phát triển. Đây là những yếu tố giúp chuyển máy móc, công nghệ và nguyên vật liệu nhập khẩu thành năng suất cao hơn, sản phẩm mới và giá trị gia tăng lớn hơn, thay vì chỉ phục vụ các công đoạn gia công có biên lợi nhuận thấp.
Cùng với năng lực công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ là điều kiện quan trọng để giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Khi trong nước chưa sản xuất được các linh kiện, vật liệu, khuôn mẫu, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cần thiết, quy mô sản xuất càng tăng thì nhu cầu nhập khẩu đầu vào càng lớn.
Vì vậy, mở rộng sản xuất cần đi cùng phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng trong nước. Bà Hương đánh giá Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2030 được Chính phủ phê duyệt là một định hướng quan trọng nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một vấn đề khác là tăng liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI. Các tập đoàn FDI không chỉ mang đến nguồn vốn mà còn có công nghệ, tiêu chuẩn quản trị, hệ thống kiểm soát chất lượng và mạng lưới thị trường quốc tế. Nếu trở thành nhà cung ứng đạt chuẩn, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, kết nối cung - cầu không nên dừng ở các hoạt động gặp gỡ, giới thiệu doanh nghiệp. Cần xác định rõ các tập đoàn FDI đang có nhu cầu về sản phẩm, linh kiện, vật liệu hay công đoạn nào; doanh nghiệp trong nước còn thiếu năng lực gì để đáp ứng. Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý, hiệp hội và tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp mới có thể thiết kế chương trình phù hợp.
Bên cạnh năng lực sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế cũng là yêu cầu ngày càng quan trọng. Doanh nghiệp điện tử không chỉ phải cạnh tranh về giá và chất lượng mà còn cần đáp ứng các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, hóa chất, lao động và quản trị môi trường, xã hội, quản trị doanh nghiệp (ESG).
Theo bà Hương, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không chỉ cần sản xuất được linh kiện mà còn phải tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu xanh và có khả năng truy xuất nguồn gốc.
Theo các diễn giả, nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu cần được đặt trong mối liên hệ với năng lực sản xuất và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam. Nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu là cần thiết để duy trì và mở rộng sản xuất, nhưng hiệu quả dài hạn còn phụ thuộc vào khả năng làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng nhà cung ứng và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Khi doanh nghiệp trong nước có thể cung cấp nhiều hơn các đầu vào đạt chuẩn, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và từng bước đảm nhận những công đoạn có giá trị cao, tăng trưởng xuất nhập khẩu mới có thêm động lực để chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng được tạo ra trong nước.
End of content
Không có tin nào tiếp theo








