Bức tranh trung tâm dữ liệu Việt Nam: Nhiều nơi hạ tầng còn manh mún, chắp vá
Ra mắt trung tâm dữ liệu quy mô lớn nhất Việt Nam / Giải pháp mới bảo mật các trung tâm dữ liệu, đám mây
Khối doanh nghiệp bứt tốc với các dự án "siêu lớn"
Theo Báo cáo thuyết minh điều chỉnh Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, thị trường trung tâm dữ liệu thương mại tại Việt Nam hiện đang được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp viễn thông lớn trong nước. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 33 trung tâm dữ liệu thuộc sở hữu của VNPT, Viettel, FPT, CMC, Hanoi Telecom và VNG. Gần đây, thị trường cũng bắt đầu đón nhận sự tham gia của các "ông lớn" nước ngoài như Gaw Capital và Worldwide DC Solution (Singapore).
Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong bức tranh này là việc Tập đoàn Viettel vừa khởi công xây dựng trung tâm dữ liệu tại huyện Củ Chi (TP Hồ Chí Minh) với quy mô gần 4 hecta, cho phép lắp đặt khoảng 10.000 tủ rack. Với tổng công suất điện thiết kế lên tới 140 MW và chỉ số hiệu quả sử dụng năng lượng (PUE) dưới 1,4, đây được dự báo là trung tâm dữ liệu quy mô "siêu lớn" (hyper-scale) đầu tiên của Việt Nam đạt công suất trên 100 MW, lọt top 10 Đông Nam Á và tương đương các trung tâm dữ liệu lớn trên thế giới. Dự án đã đi vào hoạt động giai đoạn đầu từ quý 1/2026.
Dù có những bước tiến mạnh mẽ, tổng công suất trung tâm dữ liệu hiện tại của Việt Nam mới đạt khoảng 182 MW. Con số này vẫn còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu 870 MW đặt ra cho năm 2030. Báo cáo đánh giá hạ tầng trung tâm dữ liệu nhìn chung vẫn còn phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu nội bộ và còn thiếu vắng các hệ thống trung tâm dữ liệu vùng hiện đại, đạt chuẩn quốc tế.
Lộ trình phát triển Trung tâm dữ liệu quốc gia
Ở khối nhà nước, nỗ lực quy tụ dữ liệu đang được triển khai mạnh mẽ thông qua Đề án Trung tâm dữ liệu quốc gia (theo Nghị quyết 175/NQ-CP) do Bộ Công an chủ trì xây dựng và vận hành. Đây là nền tảng cốt lõi nhằm tích hợp, đồng bộ, chia sẻ và khai thác dữ liệu từ các cơ quan nhà nước, hình thành kho dữ liệu tổng hợp và kho dữ liệu về con người. Vai trò đầu mối quản lý dữ liệu của Bộ Công an cũng đã được luật hóa thông qua Luật Dữ liệu (số 60/2024/QH15) vừa được Quốc hội thông qua.
Dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu quốc gia là nền tảng cốt lõi cung cấp các dịch vụ liên quan đến dữ liệu, hỗ trợ hoạch định chính sách, kiến tạo phát triển, xây dựng Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số, bảo đảm quốc phòng, an ninh, là động lực quan trọng xây dựng kỷ nguyên mới thịnh vượng.
Đồng thời, cung cấp hạ tầng công nghệ cho các tổ chức chính trị - xã hội, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ quan có nhu cầu sử dụng để khai thác, vận hành, nâng cao hiệu quả, bảo đảm an ninh mạng.
Dự án Trung tâm dữ liệu quốc gia được chia làm 3 giai đoạn: xây dựng cơ sở (2023-2025), mở rộng (2026-2028) và phát triển (2029-2030). Vừa qua, Bộ Công an đã khai trương trụ sở Trung tâm dữ liệu quốc gia số 1 rộng 20ha tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội). Đồng thời, Bộ Công an cũng đang lên phương án xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia số 2 (giai đoạn 2026 – 2028) và số 3 (giai đoạn 2029 – 2030), dự kiến đặt tại TP Hồ Chí Minh. Hiện TP Hồ Chí Minh đang phối hợp khảo sát các quỹ đất tại Khu công nghệ cao (Thủ Đức) để đặt Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đồng thời, Bộ Công an cũng khảo sát Khu công nghiệp Phạm Văn Hai và Củ Chi để đề xuất xây dựng Khu công nghiệp dữ liệu, Công viên số.
Theo mục tiêu đến năm 2030, cơ bản các hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương có nhu cầu (trừ hệ thống quốc phòng, an ninh hoặc chuyên ngành đặc thù) sẽ được quản lý, lưu trữ tập trung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Đối lập với các siêu dự án đang thành hình, thực trạng hạ tầng trung tâm dữ liệu tại nhiều cơ quan nhà nước hiện nay lại mang đến nhiều rủi ro. Báo cáo chỉ rõ, nhiều bộ, ngành và địa phương đang sử dụng hạ tầng vỏ trạm/phòng máy chủ được cải tạo từ chính các tòa nhà văn phòng làm việc. Hệ quả là các phòng máy chủ này không đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của một trung tâm dữ liệu hiện đại (như tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9250:2021 hoặc ANSI/TIA-942 từ Uptime-Tier 3 trở lên).
Việc đầu tư manh mún, thiếu đồng bộ này không chỉ gây lãng phí mà còn tạo ra những lỗ hổng lớn về an toàn, an ninh mạng. Hơn nữa, lực lượng nhân sự công nghệ thông tin tại các địa phương vừa mỏng, vừa phải kiêm nhiệm chuyên môn khiến công tác quản trị và vận hành hệ thống thiếu chuyên nghiệp. Hệ lụy của sự phân tán này là dữ liệu bị chồng chéo, không nhất quán, chất lượng thấp và rất khó kết nối, chia sẻ để phục vụ phát triển kinh tế số.
Một số cơ quan chọn giải pháp thuê hạ tầng điện toán đám mây của doanh nghiệp tư nhân, tuy giúp tiết kiệm chi phí và đảm bảo vận hành, nhưng lại đi kèm với rủi ro phụ thuộc vào nhà cung cấp, hoặc nguy cơ dữ liệu nhà nước bị khai thác vào mục đích thương mại.
Để giải quyết tình trạng này, Việt Nam đã ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt như TCVN 9250:2021 và Thông tư số 23/2022/TT-BTTTT, yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến trên thế giới về tiếp đất, chống sét, an toàn cháy nổ và xếp hạng Tier cho các trung tâm dữ liệu.
Hành trình tiến tới năm 2030 của Việt Nam là một cuộc chuyển đổi lớn: Từng bước xóa bỏ các phòng máy chủ "tự chế", manh mún tại các cơ quan nhà nước để tập trung về các Trung tâm dữ liệu quốc gia và các trung tâm dữ liệu thương mại đạt chuẩn, tạo nền tảng cho quản trị số và phát triển kinh tế số dựa trên dữ liệu.
End of content
Không có tin nào tiếp theo



