Gỡ nút thắt định giá để thúc đẩy doanh nghiệp khởi nguồn
Liên kết doanh nghiệp: Chìa khóa thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm / Giải pháp để tháo gỡ điểm nghẽn trong thương mại hóa nghiên cứu khoa học
Định giá công nghệ không thể chỉ dựa vào kinh phí nghiên cứu
Từ kinh nghiệm đưa công nghệ JEVA vào chế biến nông sản, PGS.TS Nguyễn Minh Tân - Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng thương mại hóa nghiên cứu cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, thay vì đầu tư thiết bị và xây dựng nhà xưởng trước khi xác định được đầu ra.

PGS.TS Nguyễn Minh Tân - Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Hà Tuấn.
Theo đó, năm 2014 - 2015, nhóm nghiên cứu của bà đã phát triển thành công công nghệ cô đặc dịch nhạy cảm nhiệt JEVA từ đề tài hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Áo bắt đầu vào năm 2012. Trên cơ sở đó, nhóm đã xây dựng giải pháp chế biến rau quả di động, có thể triển khai trực tiếp tại vùng nguyên liệu. Hướng đi này nhằm giúp doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời giảm yêu cầu về nhân lực vận hành công nghệ.
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, khác với lối mòn "đầu tư trước" truyền thống - mua máy, dựng xưởng rồi mới tìm đầu ra, dễ dẫn đến rủi ro thất bại giữa đường - nhóm áp dụng quy trình ngược lại mang tên "bằng chứng trước, đầu tư sau". Nhóm nghiên cứu thử nghiệm công nghệ, đánh giá sản phẩm và thăm dò thị trường trước khi quyết định đầu tư quy mô lớn. Sản phẩm phải được kiểm chứng về chất lượng, phản hồi của khách hàng, hiệu quả kinh tế và khả năng mở rộng.
Theo bà, đích đến cuối cùng của quá trình thương mại hóa là sản phẩm bán được trên thị trường, có đơn hàng thực tế, chứ không dừng lại ở bản thân việc ký kết hay chuyển giao quy trình kỹ thuật.
Về vấn đề thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học, PGS.TS Nguyễn Minh Tân cho rằng, dù cơ chế và quyền tự quyết đã có những bước mở đường nhất định, một trong những rào cản lớn nhất hiện nay khi thành lập doanh nghiệp spin-off là bài toán định giá kết quả nghiên cứu và công nghệ gắn với tài sản công.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng, khó khăn nằm ở yêu cầu xác lập giá trị tài sản ngay khi công nghệ chưa hoàn thiện, chưa được kiểm chứng trong thực tế và chưa tạo ra doanh thu.
“Định giá thấp thì sợ “thất thoát tài sản công”, định giá cao thì phải liên đới góp bù theo Điều 36 Luật Doanh nghiệp; kết quả là người có thẩm quyền né tránh quyết định và tiến trình thương mại hóa bị “đóng băng””, PGS.TS Phạm Quang Hưng nhận định.
Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Minh Tân cho rằng dù đã có hành lang pháp lý chung, thực tiễn vẫn thiếu vắng những trường hợp điển hình (case study) được chuẩn hóa để đối chiếu, khiến cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp lúng túng khi bắt tay triển khai. Vấn đề cốt lõi là giá trị công nghệ không thể xác định bằng các công thức hành chính cơ học. Không thể máy móc áp đặt rằng một đề tài được cấp kinh phí nghiên cứu 5 tỉ đồng thì sản phẩm thương mại hóa bắt buộc phải được định giá từ 5 tỉ đồng trở lên. Thực tế thị trường có thể đem lại giá trị 40 tỉ đồng, nhưng cũng có thể chỉ là 2 tỉ đồng
“Giá trị thực sự của một kết quả nghiên cứu khoa học chính là mức giá mà thị trường sẵn sàng trả và bên sở hữu chấp thuận giao dịch”, PGS.TS Nguyễn Minh Tân nhận định.
Bộ Giáo dục đề xuất thí điểm cơ chế sandbox
Để tháo gỡ vướng mắc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho mô hình doanh nghiệp spin-off tại các trường đại học dựa trên Đề án Đại học Bách khoa Hà Nội xây dựng.
Theo đề án, cấp phép khai thác tài sản trí tuệ là phương án mặc định. Nhà trường giữ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, cấp quyền khai thác cho doanh nghiệp khởi nguồn theo gói giao dịch chuẩn được công bố trước. Mức tham gia dự kiến của trường là 3-6% cổ phần và 0-2% tiền bản quyền tính trên doanh thu, tùy nhóm công nghệ; doanh nghiệp được miễn tiền bản quyền trong 36 tháng đầu. Việc chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ sẽ là trường hợp ngoại lệ, phải định giá độc lập.

Các thành viên Fablab (Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội) cùng nhau triển khai và thực hiện các ý tưởng sáng tạo. Ảnh: USTH.
Năm nội dung được đề xuất đưa vào cơ chế thử nghiệm gồm áp dụng gói giao dịch chuẩn thay cho việc thẩm định giá riêng lẻ trong một số trường hợp nhận cổ phần đối ứng; cho phép viên chức kiêm nhiệm hoặc tạm hoãn một phần nhiệm vụ trong thời hạn tối đa 36 tháng để trực tiếp điều hành doanh nghiệp; cho phép doanh nghiệp sử dụng phòng thí nghiệm, thiết bị và cơ sở vật chất của trường với chi phí ưu đãi hoặc miễn phí có điều kiện; đánh giá trách nhiệm theo quy trình, không theo kết quả kinh doanh; cho phép thoái vốn linh hoạt, không bắt buộc đấu giá công khai trong mọi trường hợp.
Theo phương án đề xuất, chương trình thí điểm có quy mô tối đa 15 doanh nghiệp khởi nguồn trong 24 tháng, sơ kết sau một năm và giám sát định kỳ sáu tháng một lần.
Đề án đồng thời phân định trách nhiệm giữa các đơn vị. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, bộ phận chuyển giao công nghệ quản lý tài sản trí tuệ và hợp đồng cấp phép; BK Holdings quản lý phần vốn góp của trường và thực hiện các nghiệp vụ thoái vốn.
Cơ chế sandbox được kỳ vọng tạo điều kiện để các trường chủ động đưa công nghệ ra thị trường, đồng thời xác lập quy trình quản lý và kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào cách thiết kế điều kiện thử nghiệm, cơ chế giám sát và khả năng bảo vệ người thực thi khi đã tuân thủ đúng quy định.
End of content
Không có tin nào tiếp theo












