Tìm giải pháp phát triển doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long
An Giang ‘tuýt còi’ nhà thầu chậm tiến độ đường ven biển Hòn Đất - Kiên Lương / Điều gì đang khiến những 'đảo hội' trở thành 'thỏi nam châm' hút khách du lịch?
Báo cáo do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố hôm 28/5. Theo đó, kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn tăng trưởng ổn định. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng khoảng 7,24%, đóng góp 8,39% vào tăng trưởng chung của cả nước và chiếm 12,2% GDP quốc gia.
Ông Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc.
Khác với các vùng phụ thuộc mạnh vào nguyên liệu công nghiệp nhập khẩu, ĐBSCL liên tục xuất siêu nhờ giá trị nội tại của các mặt hàng nông sản. Trong giai đoạn 2015 - 2024, kim ngạch xuất khẩu của vùng tăng từ 8,5 tỷ USD lên 20,3 tỷ USD, tăng bình quân 10,2%/năm. Thặng dư thương mại của vùng tăng từ 5,2 tỷ USD năm 2015 lên 11,8 tỷ USD năm 2024, tăng bình quân 9,6%.
Điểm nghẽn phát triển doanh nghiệp của vùng
Năm 2025, ĐBSCL có 16.341 doanh nghiệp mới được thành lập, tăng 30% so với năm trước. Riêng trong 4 tháng đầu năm 2026, ĐBSCL có hơn 3.900 doanh nghiệp tham gia thị trường, tăng 1,8 lần so với cùng kỳ, là vùng có tỷ lệ phát triển doanh nghiệp cao nhất cả nước.
Ông Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch VCCI, Trưởng ban xây dựng báo cáo cho biết, ĐBSCL đang đứng trước nghịch lý phát triển sâu sắc. Vùng chiếm hơn 65% thủy sản nuôi trồng, 70% trái cây và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, là nơi sinh sống của 18% dân số cả nước, mang tới 58% thặng dư ngoại tệ nhưng đồng thời đây là vùng có số lượng doanh nghiệp thấp nhất cả nước, năng suất lao động chỉ khoảng 133 triệu đồng/lao động/năm, thuộc nhóm thấp nhất cả nước.
Thu hút FDI năm 2025 của cả vùng chưa tới 1 tỷ USD, chiếm 2,45% cả nước. Năm 2000, doanh nghiệp tư nhân ĐBSCL từng chiếm tới 25% tổng số cả nước nhưng đến năm 2024, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 7%. Chất lượng doanh nghiệp cũng đáng lo ngại. Doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 87,8%, trong khi doanh nghiệp nhỏ, vừa, lớn chỉ lần lượt chiếm 9,5%, 1,8% và 0,9%. Dù nông nghiệp đóng góp hơn 30% GRDP nhưng doanh nghiệp nông nghiệp chiếm chưa tới 5% tổng số doanh nghiệp.

Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI báo cáo tham luận.
Điểm nghẽn logistics tiếp tục bào mòn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vùng, chi phí logistics chiếm tới 20 - 25% giá thành sản phẩm, khoảng 70% hàng hóa của vùng vẫn phải thông qua các cảng tại TP Hồ Chí Minh để xuất khẩu và mất tới 5 giờ di chuyển.
Trong khi đó, tài chính tín dụng chưa trở thành công cụ chuyển đổi doanh nghiệp, năm 2025, quy mô tăng trưởng tín dụng của vùng chiếm 2,67% tổng mức tăng tín dụng cả nước, thấp hơn tốc độ tăng của huy động vốn. Hệ thống tài chính chưa đủ sức tài trợ cho chế biến sâu, chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị.
Khu vực doanh nghiệp tư nhân nội địa còn nhỏ và mỏng, trong khi doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy đầy đủ vai trò mở đường trong hạ tầng nền tảng như logistics lạnh, năng lượng, nước và môi trường, công nghệ sinh học, hạ tầng số và kiểm định chất lượng.
Xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp đủ mạnh để phát triển bền vững
Phân tích về môi trường kinh doanh và những chính sách cần thiết để phát triển doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng thư ký VCCI cho rằng, khung hành động chính sách cần chuyển đổi từ “phát triển dựa vào đầu tư và sản lượng” sang “phát triển dựa trên doanh nghiệp và hệ sinh thái”. Thay vì áp dụng các biện pháp hỗ trợ dàn trải, cơ chế chính sách mới đòi hỏi một kiến trúc tập trung nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển đổi xanh, số hóa và tăng cường quy mô liên kết chuỗi giá trị của khu vực doanh nghiệp nội vùng.
Đến năm 2030, ĐBSCL chuyển đổi toàn diện từ mô hình kinh tế cung ứng nguyên liệu thô sang hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên các nguyên tắc phát triển thuận thiên và thích ứng khí hậu. Khi đó, năng lực cộng đồng doanh nghiệp được thể hiện thông qua các sản phẩm có tiêu chuẩn, thương hiệu, dữ liệu, công nghệ, logistics, giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
“Có như vậy, ĐBSCL mới thoát khỏi vị thế cung ứng nguyên liệu thuần túy để trở thành một trung tâm kinh tế nông nghiệp, một không gian tăng trưởng mới của Việt Nam. Đến năm 2030, phát triển đột phá của vùng không chỉ ở những tuyến cao tốc, cảng biển, khu công nghiệp… mà chính là hình thành một cộng đồng doanh nghiệp đủ sức biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng, biến bản sắc vùng thành lợi thế cạnh tranh bền vững”, ông Tuấn nói.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận nêu định hướng phát triển doanh nghiệp ĐBSCL.
Định hướng phát triển kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp ĐBSCL thời gian tới, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận nêu lên 4 nhóm định hướng chính. Đó là cải cách thể chế và môi trường kinh doanh, trên tinh thần khuyến khích và bảo vệ các doanh nghiệp, doanh nhân an tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Đồng thời, xác lập một môi trường, thể chế thật sự thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn và có khả năng dự báo cao, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Khuyến khích mạnh mẽ tinh thần chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào các thị trường chiến lược, đổi mới sáng tạo, mua sắm công, các dự án đầu tư lớn, liên kết chuỗi cung ứng trong nước và toàn cầu.
Hỗ trợ về chính sách tài khóa như ưu đãi thuế, phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, tạo thuận lợi trong tiếp cận vốn và tín dụng, đất đai.
Theo Thứ trưởng, các địa phương không nên chạy theo các thứ hạng mà cần dùng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh như một công cụ chẩn đoán, để xử lý những điểm nghẽn mà doanh nghiệp quan tâm nhất như tiếp cận đất đai, minh bạch trong quy hoạch, rút ngắn thời gian thủ tục, giảm chi phí.
“Tinh thần hỗ trợ không chỉ dừng lại ở tháo gỡ khó khăn mà cần chuyển mạnh sang nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, giúp doanh nghiệp tăng khả năng chống chịu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Từng bước chuyển tín dụng từ “dựa vào tài sản thế chấp sang dựa vào dòng tiền và hợp đồng đầu tư, ưu tiên nguồn lực cho chế biến sâu, kho lạnh, logistics, thương mại điện tử ở nông thôn và tín dụng xanh.
Đồng thời, nghiên cứu cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp, thúc đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực chế biến logistics, công nghệ nông nghiệp, dữ liệu và thương mại số, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp không chỉ sản xuất mà còn dẫn dắt chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
End of content
Không có tin nào tiếp theo







