Doanh nghiệp - Doanh nhân

Trung tâm tài chính quốc tế: Cơ hội nào cho doanh nghiệp Việt?

DNVN - TP Hồ Chí Minh đang tăng tốc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) với kỳ vọng thu hút dòng vốn toàn cầu, thúc đẩy thị trường vốn và mở ra “cuộc chơi” mới cho doanh nghiệp Việt trong giai đoạn tới.

Vingroup khởi công dự án Khu đô thị Đại học Quốc tế tại TP Hồ Chí Minh / AI đang tái định hình bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp

Việc TP Hồ Chí Minh đẩy nhanh triển khai IFC được xem là một trong những cuộc thử nghiệm thể chế lớn nhất nhiều năm qua. Không chỉ dừng ở lĩnh vực ngân hàng hay chứng khoán, IFC được kỳ vọng trở thành “cửa ngõ” giúp doanh nghiệp Việt kết nối sâu hơn với dòng vốn quốc tế và tham gia vào hệ sinh thái tài chính toàn cầu.

TP Hồ Chí Minh hiện bước vào giai đoạn tăng tốc với tham vọng trở thành một “hub” tài chính mới của Đông Nam Á trong vòng 5 năm tới.

Khác với mô hình trung tâm tài chính truyền thống, IFC TP Hồ Chí Minh được định vị như một hệ sinh thái tài chính quốc tế hoàn chỉnh, nơi thị trường vốn, fintech, blockchain, tài sản số, logistics, đổi mới sáng tạo và dòng vốn xuyên biên giới cùng vận hành trong một không gian pháp lý đặc thù.

a

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm tài chính Quốc tế tại TP Hồ Chí Minh.

Theo quy hoạch, Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh có quy mô gần 900 ha, tập trung chủ yếu tại khu vực Thủ Thiêm và một phần trung tâm thành phố. Khu vực này sẽ vận hành theo cơ chế pháp lý riêng, tiệm cận mô hình “offshore financial center” của nhiều trung tâm tài chính lớn trên thế giới.

Kỳ vọng hút dòng vốn quốc tế, thúc đẩy nâng hạng thị trường

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế TP Hồ Chí Minh, các tranh chấp phát sinh trong khu vực IFC sẽ được xử lý theo luật quốc tế thông qua hệ thống trọng tài và tòa án quốc tế đặt ngay trong trung tâm.

Đây được xem là yếu tố nền tảng để thu hút các định chế tài chính toàn cầu, bởi tính minh bạch pháp lý và khả năng bảo vệ nhà đầu tư luôn là tiêu chí quan trọng hàng đầu khi lựa chọn điểm đến dòng vốn.

Song song đó, TP Hồ Chí Minh cũng đề xuất hàng loạt cơ chế ưu đãi như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đến năm 2030, cơ chế lưu chuyển vốn linh hoạt hơn và mở rộng thời hạn visa cho chuyên gia quốc tế.

a

Theo TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia.

Theo TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, Việt Nam cần khoảng 260-280 tỷ USD vốn đầu tư mỗi năm đến năm 2030 để duy trì tăng trưởng và phục vụ quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế.

Trong bối cảnh dư địa tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp, nền kinh tế buộc phải mở rộng thêm các kênh huy động vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng truyền thống.

“IFC không chỉ nhằm thu hút vốn ngoại mà còn tạo thêm động lực cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn và nâng chuẩn vận hành của hệ thống tài chính Việt Nam”, TS Cấn Văn Lực nhận định.

Chỉ trong chưa đầy một năm, Việt Nam đã liên tục hoàn thiện khung pháp lý cho IFC với Nghị quyết 222/2025/QH15 cùng nhiều chính sách liên quan đến ngoại hối, fintech, sandbox tài chính, giao dịch hàng hóa và trọng tài quốc tế.

IFC TP Hồ Chí Minh chính thức ra mắt từ tháng 2/2026 với sự tham gia của nhiều thành viên sáng lập và đối tác chiến lược như Sovico, TPBank, SHB, MBBank, VinaCapital, Nasdaq, Gemadept và TikTok.

Song song đó, TP Hồ Chí Minh cũng thúc đẩy hình thành Fintech Hub, kết nối với các định chế tài chính quốc tế như London Stock Exchange nhằm tạo nền tảng để dòng vốn và công nghệ tài chính toàn cầu tham gia sâu hơn vào thị trường Việt Nam.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, TP Hồ Chí Minh lựa chọn hướng phát triển “đi sau nhưng đi khác”, tập trung vào fintech, blockchain, tài sản số, AI và dữ liệu tài chính thay vì cạnh tranh trực diện theo mô hình trung tâm tài chính truyền thống.

Ông cho rằng việc hợp tác với các sở giao dịch lớn như London Stock Exchange hay Nasdaq không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận gần hơn với chuẩn mực quản trị và hệ thống vốn quốc tế.

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của IFC là tạo cú hích cho quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp. Theo nhiều chuyên gia, khi quá trình nâng hạng diễn ra, quy mô dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể tăng mạnh nhờ sự tham gia của các quỹ đầu tư toàn cầu.

TS Nguyễn Trí Hiếu dự báo IFC có thể giúp Việt Nam thu hút khoảng 50 tỷ USD vốn ngoại chỉ trong ba năm đầu vận hành nếu các cải cách được triển khai đúng tiến độ.

Ở góc độ quốc tế, TP Hồ Chí Minh cũng đang dần cải thiện vị thế trên bản đồ tài chính khu vực. Theo Chỉ số Trung tâm tài chính toàn cầu (GFCI 39), TP Hồ Chí Minh hiện đứng thứ 84 thế giới, tăng 11 bậc so với kỳ đánh giá trước và vượt qua Bangkok, Jakarta. Thành phố hiện đứng thứ ba Đông Nam Á sau Singapore và Kuala Lumpur.

Theo giới chuyên gia, dù khó cạnh tranh trực diện với Singapore trong ngắn hạn, TP Hồ Chí Minh vẫn có lợi thế đáng kể nhờ quy mô nền kinh tế thực lớn, vị trí logistics chiến lược, nguồn nhân lực công nghệ dồi dào và chi phí vận hành thấp hơn đáng kể.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho biết chi phí hoạt động tại TP Hồ Chí Minh hiện chỉ bằng khoảng 1/3 đến 1/5 so với Singapore hay Hong Kong.

Đáng chú ý, TP Hồ Chí Minh đang đặt cược lớn vào tài chính hàng hải - lĩnh vực được xem là “mảnh ghép” quan trọng để IFC tạo khác biệt.

Theo ông Huân, tổng giá trị hàng hóa luân chuyển qua hệ thống cảng khu vực TP Hồ Chí Minh hiện vượt 1.000 tỷ USD mỗi năm, nhưng phần lớn giao dịch tài chính liên quan logistics và hàng hải vẫn đang diễn ra tại Singapore hoặc Hong Kong.

“Hàng hóa đi qua cảng Việt Nam nhưng giao dịch tài chính lại diễn ra ở nước ngoài”, ông nói.

Đây cũng là lý do TP Hồ Chí Minh thúc đẩy xây dựng trung tâm tài chính hàng hải quốc tế nhằm kéo dòng giao dịch tài chính quay trở lại Việt Nam.

Doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị gì?

Dù mở ra cơ hội lớn về dòng vốn và thị trường, IFC cũng đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn đối với doanh nghiệp trong nước.

Theo TS Cấn Văn Lực, các chuẩn mực quốc tế về quản trị, minh bạch dữ liệu, công bố thông tin và quản trị rủi ro sẽ ngày càng đi sâu hơn vào thị trường Việt Nam khi IFC đi vào vận hành đầy đủ.

Điều này tạo sức ép cải cách lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp nội địa vốn nhiều năm qua vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng và mô hình tăng trưởng dựa trên chi phí thấp.

Số liệu khảo sát PCI 2025 cho thấy khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Có tới 60,2% doanh nghiệp cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay là tìm kiếm khách hàng; 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu thiếu tài sản thế chấp; trong khi chỉ gần 9% doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm trong ba năm gần đây.

Những con số này phản ánh thực tế nhiều doanh nghiệp Việt vẫn chưa sẵn sàng cho môi trường cạnh tranh tài chính quốc tế - nơi dòng vốn thường ưu tiên các doanh nghiệp có quản trị minh bạch, chiến lược phát triển dài hạn và năng lực kiểm soát rủi ro tốt.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, cơ hội lớn nhất của doanh nghiệp Việt trong giai đoạn tới nằm ở khả năng thích ứng nhanh với các chuẩn vận hành mới của thị trường tài chính quốc tế.

Ông cho rằng cơ chế sandbox tài chính sẽ mở thêm không gian cho doanh nghiệp fintech, startup công nghệ và các mô hình đổi mới sáng tạo thử nghiệm sản phẩm mới. Tuy nhiên, cơ hội sẽ chỉ thực sự dành cho những doanh nghiệp có năng lực quản trị dữ liệu, minh bạch tài chính và khả năng kiểm soát rủi ro tốt.

TS Cấn Văn Lực đánh giá các lĩnh vực có khả năng hưởng lợi lớn từ IFC gồm logistics, hạ tầng cảng biển, tài chính, chuyển đổi xanh, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

a

Ông Phan Đình Tuệ - Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Nghệ Tĩnh tại TP Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, cùng với IFC, TP Hồ Chí Minh đang thúc đẩy khu thương mại tự do Cái Mép Hạ quy mô gần 3.800 ha gắn với hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải. Theo giới chuyên gia, đây có thể trở thành nền tảng hình thành chuỗi logistics - tài chính - thương mại mới ở khu vực phía Nam trong những năm tới.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở cơ chế mà ở năng lực thực thi và tốc độ cải cách thực tế. IFC sẽ khó tạo ra hiệu ứng lan tỏa nếu môi trường đầu tư, thủ tục hành chính, hạ tầng số và chất lượng nguồn nhân lực không theo kịp yêu cầu mới.

Ở góc độ doanh nghiệp, đây được xem là giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Khi các chuẩn mực quốc tế bắt đầu đi sâu hơn vào thị trường trong nước, năng lực quản trị, minh bạch tài chính và khả năng đổi mới sẽ quyết định doanh nghiệp nào đủ sức bước vào “cuộc chơi” mới của dòng vốn toàn cầu.

Ngân Nga
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm