Hỗ trợ doanh nghiệp

Đánh thức ‘mỏ kim cương’ cà phê và cá nước lạnh Đà Lạt

DNVN - Cà phê và cá nước lạnh được ví như “mỏ kim cương” của Đà Lạt và vùng phụ cận. Nhưng để lợi thế đặc hữu tạo ra giá trị tương xứng, bài toán không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở công nghệ, quản trị chuỗi, chế biến sâu và năng lực chinh phục thị trường.

Lâm Đồng thành lập Hội Doanh nghiệp Lạc Dương, tạo trục liên kết mới / Lâm Đồng: Ra mắt câu lạc bộ doanh nhân xã Lạc Dương

Những “viên kim cương thô” cần được mài giũa

Tại tọa đàm “Giải pháp phát triển kinh tế HTX bền vững trong lĩnh vực cà phê, cá nước lạnh khu vực Đà Lạt và vùng phụ cận” do Hội Doanh nghiệp Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng) tổ chức, các chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất đều nhận định vùng nguyên liệu của tỉnh có quy mô lớn, sản phẩm có chất lượng, nhu cầu thị trường đã hiện hữu nhưng giá trị gia tăng giữ lại cho địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Ông Sử Thanh Hoài - Cố vấn Hội Doanh nghiệp Lạc Dương (bìa trái), giới thiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương với Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV).

Ông Sử Thanh Hoài - Cố vấn Hội Doanh nghiệp Lạc Dương (bìa trái), giới thiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương với Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV).

Ông Sử Thanh Hoài - nguyên Bí thư huyện ủy Lạc Dương, Cố vấn Hội Doanh nghiệp Lạc Dương cho rằng, cà phê và cá nước lạnh là hai ngành hàng có lợi thế nổi trội của Đà Lạt và vùng phụ cận. Theo thống kê, tỉnh Lâm Đồng có khoảng 328.000 ha cà phê, lớn nhất cả nước. Sản lượng cá tầm của Việt Nam năm 2025 ước khoảng 11.000 tấn, trong đó Lâm Đồng chiếm khoảng 6.000 tấn.

Quy mô lớn nhưng khoảng trống trong chuỗi giá trị vẫn rõ rệt. Cà phê phần nhiều còn bán dưới dạng nguyên liệu; cá tầm chủ yếu tiêu thụ tươi sống; năng lực chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tổ chức nguồn cung chưa theo kịp tiềm năng.

Ông Hoài dẫn chứng, một doanh nghiệp Nhật Bản từng thử nghiệm thành công sashimi từ cá tầm địa phương và yêu cầu nguồn cung khoảng 200 tấn mỗi năm, không có dư lượng kháng sinh. Tuy nhiên, phía sản xuất chưa thể ký hợp đồng do quy trình giữa các cơ sở nuôi chưa đồng nhất. Một doanh nghiệp tại Mỹ cũng quan tâm đến trứng cá tầm, nhưng các đơn vị trong nước chưa có công nghệ phù hợp. Hai trường hợp trên cho thấy điểm nghẽn hiện nay không nằm ở thị trường mà ở năng lực đáp ứng.

“Dư địa phát triển lĩnh vực này còn rất lớn và rất cần bàn tay của doanh nghiệp, hợp tác xã. Cơ quan nhà nước, hiệp hội và các tổ chức quốc tế chỉ có thể đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ”, ông Hoài nói và đề nghị sau tọa đàm cần tiếp tục trao đổi chuyên sâu về ESG, truy xuất nguồn gốc, vùng nguyên liệu và chế biến; kết nối doanh nghiệp có thị trường với hợp tác xã, nhà máy với cơ sở sản xuất gia công.

Ông Trịnh Bá Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng, chia sẻ tại toạ đàm.

Ông Trịnh Bá Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng, chia sẻ tại tọa đàm.

Ông Trịnh Bá Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng, nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch và nông nghiệp, cho rằng Đà Lạt và vùng phụ cận đang sở hữu nhiều sản phẩm “độc bản”, nổi bật là cà phê Arabica Đưng K’Nớ và cá nước lạnh với dư địa phát triển rất lớn.

“Chúng ta đang sở hữu ‘mỏ kim cương’ rất quý giá. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là công nghệ khai thác. Nếu khai thác thủ công thì mãi mãi không phát triển được”, ông Dũng nhấn mạnh.

Theo ông, không ít lô nông sản từng bị trả về do chưa kiểm soát tốt chất lượng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc kháng sinh. Vì vậy, sản xuất phải chuyển mạnh sang hướng hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, kiểm soát chặt chẽ từ khâu nuôi trồng đến chế biến và phân phối. Riêng với cá nước lạnh, dù có lợi thế khí hậu để sản xuất quanh năm, ngành hàng này vẫn còn hạn chế về công nghệ cấp đông, chế biến sâu, hệ thống phân phối và năng lực tiếp thị.

Chuyên gia Marco Breu gọi cà phê, cá nước lạnh của Đà Lạt và vùng phụ cận là những “viên kim cương thô”. Theo ông, muốn thu hút nhà đầu tư nước ngoài và đưa sản phẩm vào các thị trường lớn, doanh nghiệp phải đáp ứng ba điều kiện gồm quy mô, sự nhất quán và độ tin cậy.

Chuyên gia - nhà đầu tư Marco Breu phát biểu.

Chuyên gia - nhà đầu tư Marco Breu phát biểu.

Quy mô là khả năng cung ứng ổn định; sự nhất quán là toàn bộ thành viên tuân thủ cùng quy trình; độ tin cậy thể hiện qua việc thực hiện đúng hợp đồng, chất lượng và thời gian giao hàng. Chỉ một hộ sử dụng chất cấm hoặc không đạt chuẩn cũng có thể làm hỏng cả lô hàng và uy tín thương hiệu.

Chuyên gia đến từ Thuỵ Sĩ khuyến nghị không nên phân tán nguồn lực vào quá nhiều sản phẩm, thị trường mà cần lựa chọn một thị trường mục tiêu, nghiên cứu kỹ tiêu chuẩn, văn hóa tiêu dùng và xây dựng mô hình thành công.

“Việt Nam đã dần thoát khỏi mô hình xuất khẩu thô giá rẻ. Chúng ta cần hướng đến sản phẩm có giá trị gia tăng cao, như cà phê đơn vùng trồng (single origin) từ một vùng trồng xác định, thay vì cà phê trộn đại trà”, ông Marco Breu nói.

Liên kết để nâng giá trị sản phẩm

Bà Đinh Nguyễn Thùy Dung - Phó Giám đốc điều hành Công ty Cà phê Hồ Phượng, cho biết doanh nghiệp đã có 32 năm hoạt động tại Lâm Đồng, đạt được các chứng nhận 4C, Rainforest Alliance, EUDR và đang hướng đến ESG.

Bà Đinh Nguyễn Thùy Dung - Phó Giám đốc điều hành Công ty Cà phê Hồ Phượng, chia sẻ thông tin.

Bà Đinh Nguyễn Thùy Dung - Phó Giám đốc điều hành Công ty Cà phê Hồ Phượng, phát biểu.

Theo bà Dung, “bền vững” không phải một chứng nhận mang tính thời điểm mà là lộ trình dài. Đà Lạt và vùng phụ cận có lợi thế về độ cao, thổ nhưỡng; phần lớn diện tích cà phê không vi phạm yêu cầu chống mất rừng. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là tổ chức nông dân cùng tuân thủ quy trình.

“Cái khó nhất là làm việc với người nông dân. Họ thường quan tâm ai mua giá cao hơn thì bán, dù đã ký hợp đồng liên kết”, bà Dung chia sẻ. Từ đó, bà đề xuất thành lập Hiệp hội Cà phê Lâm Đồng để kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân với cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế; hỗ trợ thông tin thị trường, kỹ thuật, vốn, chứng nhận và quảng bá thương hiệu.

Ông Lê Xuân Tiến - Phó Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH XNK Thương mại VoCo, chia sẻ thông tin.

Ông Lê Xuân Tiến - Phó Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH XNK Thương mại VoCo, chia sẻ thông tin.

Ông Lê Xuân Tiến - Phó Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH XNK Thương mại VoCo cho biết, doanh nghiệp đã đưa cà phê địa phương sang Nhật Bản, nhưng giá trị xuất khẩu vẫn chủ yếu nằm ở nguyên liệu thô.

“Trước đây, các chứng nhận bền vững của chúng tôi thường phụ thuộc vào chuỗi cung ứng của đối tác, dẫn đến thiếu tính chủ động. Tới đây, doanh nghiệp muốn cùng các hiệp hội và nông dân xây dựng những chứng nhận bền vững đúng nghĩa”, ông Tiến cho biết.

Ông Võ Đình Tùng – Phó giám đốc HTX Cá nước lạnh Lạc Dương, nêu trăn trở.

Ông Võ Đình Tùng – Phó giám đốc HTX Cá nước lạnh Lạc Dương, nêu trăn trở tại buổi tọa đàm.

Với cá nước lạnh, ông Võ Đình Tùng - Phó giám đốc HTX Cá nước lạnh Lạc Dương cho biết, đơn vị đang nuôi cá tầm tại Đạ Sar trên diện tích khoảng 1 ha, sản lượng dự kiến năm tới đạt khoảng 300 tấn. Khó khăn lớn nhất là đầu ra và sự cạnh tranh của cá nhập khẩu giá rẻ.

Theo ông Tùng, cá tầm địa phương được nuôi theo quy trình sạch nhưng người tiêu dùng khó phân biệt với cá nhập khẩu. Khi nguồn cá nhập khẩu giá rẻ tràn vào, giá có thời điểm giảm xuống khoảng 120.000-125.000 đồng/kg, khiến người nuôi gần như chỉ hòa vốn.

“Chúng tôi rất cần quy chuẩn truy xuất nguồn gốc và một thương hiệu rõ ràng cho cá tầm địa phương. Nguồn giống, công nghệ ấp nở cũng cần được hỗ trợ để giảm giá thành và chủ động sản xuất”, ông Tùng kiến nghị.

Ông Bon Niêng Ha Dong - đại diện Tổ hợp tác cá nước lạnh Đưng K’Nớ cho biết, người dân tộc thiểu số đầu tư vào cá tầm là một nỗ lực lớn bởi mô hình cần nguồn vốn cao. Điều kiện sương mù, độ cao và nguồn nước tạo ra chất lượng tốt, nhưng giá cả bấp bênh khiến người dân chưa yên tâm mở rộng. Ông mong muốn được hỗ trợ kết nối thị trường, chuyển giao kỹ thuật và nâng giá trị sản phẩm.

Ông Bon Niêng Ha Dong - đại diện Tổ hợp tác cá nước lạnh Đưng K’Nớ, chia sẻ.

Ông Bon Niêng Ha Dong - đại diện Tổ hợp tác cá nước lạnh Đưng K’Nớ, chia sẻ.

Để giải bài toán liên kết, ông Sử Thanh Hoài đề xuất doanh nghiệp trở thành thành viên nòng cốt, trực tiếp tham gia quản trị hợp tác xã, thay vì chỉ ký hợp đồng thu mua với từng hộ. Cách làm này giúp giải quyết những phần việc người nông dân khó tự thực hiện như chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và thực hiện hợp đồng.

Điều được chờ đợi sau tọa đàm không chỉ là những cam kết kết nối, mà là các đầu việc sớm đi vào thực tế, từ xây dựng vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình, phát triển thương hiệu đến mở rộng thị trường. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất cùng tham gia một chuỗi giá trị có quy mô, tiêu chuẩn và độ tin cậy, “mỏ kim cương” cà phê, cá nước lạnh của Đà Lạt và vùng phụ cận mới thực sự được khai mở, tạo thêm giá trị cho địa phương và nâng sức cạnh tranh của nông sản Lâm Đồng.

Viên Hữu - Tâm An
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm