Đề xuất 6 nhóm chính sách phát triển công nghiệp văn hóa
Phát triển công nghiệp văn hóa - Bài cuối: Đổi mới trong tư duy, đột phá trong cách làm / Phát triển công nghiệp văn hóa - Bài 1: Văn hóa thúc đẩy kinh tế phát triển
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa, trong đó tập trung vào 6 nhóm chính sách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn lực, nhân lực, hạ tầng, thị trường và cơ chế tài chính cho lĩnh vực này.

Theo cơ quan soạn thảo, dự luật hướng tới xác lập địa vị pháp lý của các ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam, sau 12 năm triển khai các chủ trương phát triển lĩnh vực này.
Mục tiêu là kết nối các khâu trong chuỗi giá trị, thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu và thu hút đầu tư FDI, hướng tới đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP hàng năm sớm hơn mục tiêu năm 2030. Bên cạnh giá trị kinh tế, lĩnh vực này được kỳ vọng góp phần lan tỏa bản sắc, thương hiệu và sức mạnh mềm của Việt Nam.
Dự thảo luật được định hướng không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính hay lặp lại những chính sách đã được quy định trong luật chuyên ngành. Thay vào đó, dự thảo tập trung vào những khoảng trống pháp lý và các điểm nghẽn trong thực thi, nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho các chủ thể tham gia chuỗi giá trị.
Sáu nhóm chính sách được đề cập trong Dự thảo Luật gồm chính sách về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, về tài sản trí tuệ, về nhân lực, hạ tầng, thị trường và tài chính - đầu tư cho công nghiệp văn hóa.
Nhóm chính sách về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa nhằm thể chế hóa mục tiêu hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Theo dự thảo, cần tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị để phát triển như một ngành kinh tế chiến lược.
Dự thảo Luật dành một phần cho nhóm chính sách về tài sản trí tuệ - nguồn tài sản đặc biệt quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa. Điểm then chốt của nhóm này là tháo gỡ triệt để các rào cản phát triển như thiếu công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số, hồ sơ chưa được chuẩn hóa để phục vụ thương mại hóa, khó tiếp cận tín dụng bằng tài sản trí tuệ, hạn chế trong bảo vệ quyền sáng tạo và năng lực định giá tài sản còn bất cập.
Việc tháo gỡ những điểm nghẽn này được kỳ vọng giúp các ý tưởng, tác phẩm và sản phẩm sáng tạo có thể được xác lập giá trị, bảo vệ và chuyển thành nguồn lực kinh tế.
Nhóm chính sách thứ ba tập trung vào nhân lực công nghiệp văn hóa, từ đào tạo, tuyển dụng đến sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Một điểm mới được đề xuất là xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế. Khung này sẽ làm cơ sở cho đào tạo, đánh giá và phát triển nhân lực.
Dự thảo đồng thời hướng tới tháo gỡ các vấn đề về tiêu chuẩn nhà giáo, liên thông đào tạo, quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm trong khu vực công, chính sách đãi ngộ nhân lực chất lượng cao và tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư cho phát triển tài năng.
Về hạ tầng công nghiệp văn hóa, dự thảo đề xuất xác định rõ các thành phần của hạ tầng công nghiệp văn hóa, gồm công trình hạ tầng cấp quốc gia và cấp tỉnh; tổ hợp, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; không gian công cộng phục vụ hoạt động công nghiệp văn hóa; cùng hạ tầng văn hóa số.
Trong đó, hạ tầng dữ liệu được xác định là cấu phần cốt lõi, giúp chuẩn hóa các nền tảng số quan trọng, gồm kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa và hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ phục vụ tạo lập, quản trị, lưu trữ, chia sẻ và khai thác dữ liệu.
Dự thảo cũng đề xuất phân cấp cho UBND cấp xã chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương.
Theo cơ quan soạn thảo, thị trường là yếu tố quan trọng quyết định khả năng phát triển của công nghiệp văn hóa. Dự thảo đưa ra 5 nhóm giải pháp gồm chuẩn hóa và định hình các sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn; nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; khai thác hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa; thúc đẩy tiêu dùng văn hóa qua công cụ số; xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa.
Nhóm chính sách cuối cùng tập trung vào nguồn vốn và cơ chế hỗ trợ đầu tư - một trong những điểm nghẽn lớn của các ngành công nghiệp văn hóa.
Dự thảo đề xuất đa dạng hóa nguồn tài chính, thiết lập cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước và khu vực tư nhân; có ưu đãi cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động sáng tạo.
Các sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi cũng được đề xuất hưởng chính sách ưu đãi, trong khi cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được đặt ra nhằm tăng khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Theo cơ quan soạn thảo, các chính sách này hướng tới khắc phục tình trạng nguồn lực tài chính cho văn hóa còn phân tán, khó huy động vốn tư nhân và thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
End of content
Không có tin nào tiếp theo












