Đổi cách làm để các hợp tác xã chuyển đổi số hiệu quả
Kế hoạch mới nhất của Đà Nẵng về phát triển vận tải đường thuỷ nội địa / Đột phá thực thi chính sách tạo sức bật cho doanh nghiệp
Nút thắt từ dữ liệu và năng lực quản trị
Cả nước hiện có 35.041 HTX, 164 liên hiệp HTX và 65.910 tổ hợp tác, thu hút gần 7,1 triệu thành viên và tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động thường xuyên. Nhu cầu chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể rất đa dạng về quy mô và điều kiện hoạt động.
Tuy nhiên, hoạt động chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể đang gặp nhiều trở ngại cả về nguồn lực, kỹ năng và cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Tại diễn đàn “Chuyển đổi số trong HTX: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” sáng 7/10 tại Hà Nội, bà Cao Xuân Thu Vân - Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho biết, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, ở mức bắt đầu.
Theo bà Vân, điểm nghẽn không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ mà còn ở dữ liệu, kỹ năng, nguồn lực, phương thức quản trị và đặc biệt là khả năng biến công nghệ thành hiệu quả kinh tế.
Kết quả đánh giá của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy mức độ chuyển đổi số của HTX mới đạt trung bình 1,28/5 điểm. Một số hoạt động như cập nhật danh mục sản phẩm trên môi trường số, sử dụng sàn thương mại điện tử hay đầu tư cho tiếp thị số đều ở mức thấp.

Theo PGS, TS Hoàng Hữu Hạnh - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, chỉ 13% có trình độ đại học trở lên. Đáng chú ý, chỉ khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị.
Điều này cho thấy bài toán chuyển đổi số không chỉ là đưa phần mềm vào HTX mà còn là năng lực vận hành, quản lý và khai thác dữ liệu.
Khoảng cách này thể hiện rõ trong truy xuất nguồn gốc. Theo ông Đào Ngọc Tuất - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 31/8/2026, trong gần 794.000 sản phẩm đăng ký trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, chỉ hơn 158.000 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương khoảng 20%.
Trong số 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ có 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, tương ứng 1,2%. Theo ông Tuất, những con số này cho thấy khoảng cách lớn giữa việc đăng ký trên hệ thống và năng lực cung cấp dữ liệu thực tế.
“Mã QR thực chất chỉ là chiếc cửa sổ để người tiêu dùng tra cứu. Giá trị cốt lõi của truy xuất nguồn gốc nằm ở khối dữ liệu sống động phía sau”, ông Tuất nói.
Dữ liệu phải được ghi nhận đúng thời điểm sản xuất, có kiểm tra, xác nhận và xuyên suốt từ sản xuất đến thị trường. Vì vậy, điểm nghẽn lớn không nằm ở việc thiếu phần mềm mà ở năng lực ghi chép, cập nhật dữ liệu tại cơ sở.
Một vấn đề khác là nhiều HTX vẫn quản lý thành viên và giao dịch theo phương thức thủ công. Sổ tay, phiếu cân, chứng từ rời rạc và đối chiếu vào cuối vụ khiến việc quản lý chậm, dễ thất lạc dữ liệu, đồng thời gây khó khăn khi HTX làm việc với nhà thu mua, tổ chức tín dụng hoặc cơ quan quản lý.
Cần thay đổi cách tiếp cận chuyển đổi số
Từ thực trạng trên, các chuyên gia cho rằng HTX cần thay đổi cách tiếp cận chuyển đổi số. Thay vì bắt đầu bằng câu hỏi “mua công nghệ gì”, HTX cần xác định vấn đề nào đang làm mình mất tiền, mất khách hàng hoặc giảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân, chuyển đổi số HTX cần tập trung vào ba trụ cột là dữ liệu, quản trị và thị trường. Bản thân HTX cũng phải thay đổi tư duy quản trị, xem dữ liệu là tài sản và công nghệ là công cụ nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Một trong những nguyên tắc được ông Hạnh đề xuất là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”. HTX có thể thuê thay vì tự xây dựng hoặc mua trọn gói, ưu tiên những nền tảng dùng chung đã được phát triển và có thể sử dụng ngay.
Các nền tảng này cần bảo đảm khả năng liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia và cho phép HTX xuất dữ liệu của mình, tránh tình trạng dữ liệu bị giữ trên một nền tảng và HTX phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Với từng HTX, quá trình chuyển đổi số nên bắt đầu từ những công việc nền tảng như số hóa sổ sách, danh sách thành viên, giao dịch, kế toán và nhật ký sản xuất. Sau đó mới mở rộng sang quản lý bán hàng, kho, hồ sơ sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và các kênh bán hàng số.

Theo TS Chu Tiến Đạt - Tổng công ty VTC, HTX nên triển khai theo từng lớp. Trước hết là tài chính và thành viên; tiếp đến là bán hàng, kho và đáp ứng yêu cầu của nhà phân phối; sau khi hai lớp này ổn định mới mở rộng sang dữ liệu khách hàng, bán hàng đa kênh, nội dung số và trí tuệ nhân tạo.
Cùng với giải pháp công nghệ, chính sách hỗ trợ cũng cần được thiết kế theo mức độ trưởng thành số của từng HTX. Ông Hạnh đề xuất hỗ trợ theo bậc thang, xây dựng một đầu mối dữ liệu, chuẩn hóa danh mục các nền tảng dùng chung và phát triển mạng lưới nhân lực tư vấn tại chỗ.
Hỗ trợ chuyển đổi số cũng cần tránh tình trạng có tiền nhưng không có người sử dụng, phụ thuộc vào một nhà cung cấp hoặc chạy theo công nghệ mới khi nền tảng dữ liệu còn yếu. “Cả ba rủi ro đều giảm khi đi đúng thứ tự: dữ liệu trước, công nghệ sau”, ông nhấn mạnh.
Ở góc độ địa phương, ông Đỗ Xuân Trường - Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, cho rằng không thể áp dụng một mô hình công nghệ giống nhau cho mọi HTX. HTX nông nghiệp khác HTX thủy sản, HTX sản xuất khác HTX thương mại, dịch vụ, trong khi quy mô và nguồn lực của mỗi đơn vị cũng khác nhau.
Vì vậy, chuyển đổi số phải đúng nhu cầu, đúng quy mô và khả năng của từng HTX, quan trọng nhất là tạo ra hiệu quả kinh tế.
Theo ông Trường, việc một HTX sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử, mạng xã hội, thương mại điện tử hay mã QR mới chỉ là những bước số hóa công việc. Chuyển đổi số thực sự phải giúp HTX trả lời được những câu hỏi về số lượng thành viên, chi phí sản xuất, hiệu quả từng sản phẩm, khách hàng, nhu cầu thị trường, tình trạng đơn hàng và lợi ích của thành viên.
“Nếu dữ liệu trả lời được những câu hỏi đó thì dữ liệu mới thực sự trở thành công cụ quản trị”, ông Trường nói.
Để tạo chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số, bà Vân cho rằng cần hình thành những kết nối giữa HTX với doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính và hệ thống phân phối; đồng thời lựa chọn các mô hình khả thi để thí điểm, đo lường kết quả, hoàn thiện và nhân rộng.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, năng lực quản trị được nâng lên và công nghệ được lựa chọn đúng nhu cầu, chuyển đổi số mới có thể trở thành công cụ giúp HTX giảm chi phí, nâng hiệu quả sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường.
End of content
Không có tin nào tiếp theo












