Hỗ trợ doanh nghiệp

Kinh tế tư nhân cần cơ chế lớn lên để nâng năng suất và tăng sức cạnh tranh

DNVN - Kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 51% GDP, nhưng khu vực doanh nghiệp vẫn phân mảnh trong khi năng suất và quy mô còn hạn chế. Theo ThS. Nguyễn Thị Chinh, trọng tâm chính sách giai đoạn 2026-2030 không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp mà phải tạo cơ chế để doanh nghiệp lớn lên, nâng năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ứng dụng AI phải gắn liền với thực tế sản xuất của doanh nghiệp / Deep Pro: Công nghệ lõi giúp tối ưu quản trị hành chính và doanh nghiệp

6 điểm nghẽn lớn

Đến năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân chiếm khoảng 51% GDP, trong đó doanh nghiệp tư nhân đóng góp khoảng 28% GDP và hộ sản xuất khoảng 23%. Khu vực này đồng thời đóng góp trên 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động.

Số doanh nghiệp đang hoạt động cũng tăng từ 857,6 nghìn doanh nghiệp năm 2021 lên 940,1 nghìn năm 2024 và năm 2025 tiến gần mốc 1 triệu, bên cạnh hơn 5 triệu hộ kinh doanh.

Tuy nhiên, theo ThS. Nguyễn Thị Chinh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, sự gia tăng về số lượng chưa đi cùng cải thiện tương xứng về quy mô, năng suất, đầu tư và vị trí trong chuỗi giá trị.

Phân tích sâu về phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam, chuyên gia cho rằng, có 6 điểm nghẽn lớn.

Thứ nhất, khu vực tư nhân vẫn phân mảnh và thiếu doanh nghiệp quy mô lớn. Cơ cấu chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, trong khi số doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tổ chức chuỗi sản xuất và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn ít.

“Sự phân mảnh này làm hạn chế tích tụ vốn, đầu tư công nghệ và năng lực quản trị. Vấn đề của Việt Nam không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp chưa đạt mục tiêu mà còn ở ‘độ dày’ của tầng doanh nghiệp vừa và lớn chưa đủ để tổ chức các chuỗi sản xuất trong nước”, bà Chinh nhận định.

Hệ thống chính sách hiện cần có sự chuyển biến thực chất trong hành vi đầu tư, năng suất và quá trình lớn lên của doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai, động lực đầu tư tư nhân suy giảm. Vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước trong giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng bình quân 4,1%/năm, chưa bằng một phần ba mức tăng 13,4%/năm của giai đoạn 2015-2019. Khi đầu tư tư nhân tăng chậm, gánh nặng tạo năng lực sản xuất mới sẽ dồn nhiều hơn lên đầu tư công, tín dụng ngân hàng và FDI.

Thứ ba, năng suất, công nghệ và năng lực quản trị còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân sử dụng công nghệ lạc hậu, tạo ra giá trị gia tăng thấp và chủ yếu đứng ở phân khúc thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Đầu tư vào các lĩnh vực mới như chip, vi mạch, bán dẫn và năng lượng sạch còn thấp.

Thứ tư, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và FDI chưa đủ sâu. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 72,3% năm 2020 lên 77,3% năm 2025. Quy mô xuất khẩu lớn nhưng phần lớn các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, máy tính và linh kiện; máy móc, thiết bị và phụ tùng; điện thoại và linh kiện vẫn do doanh nghiệp FDI sản xuất.

Theo bà Chinh, vấn đề không phải Việt Nam thiếu FDI mà là chưa khai thác đầy đủ FDI như một “bệ đỡ nâng cấp” doanh nghiệp nội địa. Khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, tham gia thiết kế, R&D, logistics, dịch vụ kỹ thuật và phân phối của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

Thứ năm, hơn 5 triệu hộ kinh doanh chưa được chính thức hóa hiệu quả. Quy mô nhỏ, quản trị gia đình, kế toán đơn giản và khả năng tiếp cận tín dụng chính thức thấp hạn chế quá trình tích tụ và nâng năng suất. Nếu chuyển đổi chỉ làm tăng nghĩa vụ tuân thủ mà không tạo thêm lợi ích về vốn, thị trường, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ, động lực chuyển từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp sẽ yếu.

Thứ sáu, chất lượng thực thi chính sách còn hạn chế. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, hướng dẫn thực hiện chưa thống nhất, thủ tục hành chính liên thông còn hạn chế. Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp về pháp lý, công nghệ, xúc tiến thương mại, kiểm định và tiêu chuẩn còn phân tán, chất lượng chưa đồng đều.

Không chỉ thêm doanh nghiệp, phải giúp doanh nghiệp lớn lên

Từ những điểm nghẽn trên, ThS. Nguyễn Thị Chinh cho rằng Việt Nam không thiếu chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Vấn đề là chính sách chưa tạo được cơ chế đủ mạnh để doanh nghiệp phát triển theo từng giai đoạn: từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, từ siêu nhỏ thành nhỏ, từ nhỏ thành vừa, từ vừa thành lớn và từ doanh nghiệp trong nước thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế.

“Trọng tâm không chỉ là ‘có thêm doanh nghiệp’, mà là ‘có thêm doanh nghiệp lớn lên và tạo ra nhiều giá trị hơn’”, bà Chinh nhấn mạnh.

Theo đó, chính sách giai đoạn 2026-2030 cần chuyển từ tư duy hỗ trợ từng vấn đề riêng lẻ sang kiến tạo cơ chế phát triển doanh nghiệp hoàn chỉnh.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xử lý các quy định chồng chéo giữa đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và quy định chuyên ngành. Đồng thời cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản lý rủi ro, đồng thời bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.

Cải cách thủ tục hành chính cần gắn với dữ liệu số, hướng tới việc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần, cơ quan nhà nước chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Chất lượng cải cách cần được đo bằng thời gian và chi phí thực tế doanh nghiệp tiết kiệm được.

Một trọng tâm khác là khơi lại động lực đầu tư tư nhân và đa dạng hóa nguồn vốn. Đầu tư công cần tập trung vào hạ tầng chiến lược có khả năng kích hoạt dự án tư nhân. Cùng với tín dụng ngân hàng, cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, vốn cổ phần, quỹ đầu tư và vốn mạo hiểm. Chính sách tín dụng cũng cần khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, phương án kinh doanh, đơn hàng và chuỗi giá trị.

Đồng thời, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần lấy năng suất làm tiêu chí trung tâm. Ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ ngân sách nên gắn với R&D, tự động hóa, chuyển đổi số, đào tạo lao động, đổi mới quy trình, chuyển đổi xanh và phát triển sản phẩm mới; đánh giá bằng kết quả như mức tăng năng suất, doanh thu, tỷ lệ nội địa hóa, xuất khẩu và đầu tư R&D.

Việt Nam cần hình thành tầng doanh nghiệp tư nhân vừa và lớn đủ mạnh để dẫn dắt các hệ sinh thái sản xuất.

Cùng với đó, cần tái cấu trúc quan hệ giữa FDI và doanh nghiệp trong nước theo hướng lấy liên kết và chuyển giao năng lực làm thước đo chất lượng FDI; xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng Việt Nam theo ngành, hỗ trợ doanh nghiệp đạt chứng nhận quốc tế và kết nối trực tiếp với các tập đoàn lớn.

Đối với hộ kinh doanh, chính thức hóa chỉ bền vững khi lợi ích của việc trở thành doanh nghiệp lớn hơn chi phí tuân thủ. Vì vậy, cần đi cùng chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm đơn giản và khả năng tiếp cận tốt hơn với tín dụng, nền tảng số, tư vấn pháp lý, đấu thầu và chuỗi cung ứng.

"Nếu Việt Nam tạo được một lực lượng doanh nghiệp tư nhân có khả năng tích tụ vốn, làm chủ công nghệ, tổ chức chuỗi giá trị và cạnh tranh quốc tế, khu vực này sẽ không chỉ là một thành phần đóng góp lớn vào GDP mà còn trở thành động lực chuyển hóa nguồn lực xã hội thành năng lực sản xuất mới", chuyên gia nhấn mạnh.

Thu An
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm