Kiến nghị bãi bỏ nhiều rào cản và thủ tục quản lý phát thanh, truyền hình
Mỹ siết chặt rào cản kỹ thuật với thuỷ sản nhập khẩu / Nghịch lý ưu đãi công nghiệp hỗ trợ: Chính sách 'mở' nhưng thủ tục lại 'thắt'
Trả lời Công văn số 915/BVHTTDL-PTTH&TTĐT của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc đề nghị góp ý Dự thảo quản lý, cung cấp và sử dụng phát thanh, truyền hình (Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có một số ý kiến.
Về giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 6), dự thảo quy định, điều kiện cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền là có năng lực tài chính cần thiết thể hiện bởi dự toán chi phí biên tập hoặc biên tập, biên dịch trong 1 năm và văn bản chứng minh nguồn tài chính hợp pháp bảo đảm thực hiện công tác biên tập, biên dịch theo dự toán” (điểm đ).
Quy định này được hiểu nhằm bảo đảm khả năng tài chính của cơ quan báo chí để thực hiện biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.

"Điều này là không cần thiết và chưa phù hợp với mục tiêu của quy định về điều kiện kinh doanh (nhằm đảm bảo các lợi ích công cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư). Việc đảm bảo năng lực tài chính để vận hành hoạt động kinh doanh là yếu tố mà tổ chức buộc phải tính toán và tự phải đáp ứng, Nhà nước không cần thiết phải can thiệp trong trường hợp này", VCCI nêu.
Ngoài ra, dự thảo quy định điều kiện cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền là phải có bản quyền hoặc văn bản cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật” (điểm e).
Theo VCCI, yêu cầu tài liệu này trong hồ sơ xin cấp phép là chưa hợp lý, bởi vì tại thời điểm này tổ chức chưa được phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền. Vì vậy rất khó để có “văn bản cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam”.
Từ những phân tích, VCCI đề nghị bỏ quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 6 Dự thảo.
Liên quan đến hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 10), VCCI cho rằng tổng thời gian 34 ngày làm việc để cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài là quá dài so với các thủ tục tương tự. VCCI đề xuất giảm xuống còn 18 ngày làm việc.
Tương tự, tại Điều 11, thời gian thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung cũng được kiến nghị giảm từ 26 ngày xuống còn 10 ngày làm việc. VCCI cũng đề nghị đơn giản hóa hồ sơ, không yêu cầu nộp lại văn bản mô tả nội dung và khung phát sóng đối với các thay đổi không liên quan đến nội dung, thể loại kênh.
Liên quan đến quy định tại Điều 13, VCCI cho rằng việc chỉ cho phép doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu mới được thực hiện xuất khẩu chương trình trong nước là chưa hợp lý. Theo VCCI, đây không phải là hoạt động kinh doanh gắn với điều kiện cần kiểm soát, đồng thời pháp luật hiện hành cũng không còn xem xét ngành nghề đăng ký kinh doanh để xác định quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, VCCI đề xuất sửa đổi theo hướng mọi doanh nghiệp thành lập theo pháp luật đều được thực hiện xuất khẩu chương trình phát thanh, truyền hình trong nước.
Đối với việc thử nghiệm các sản phẩm dịch vụ dựa trên công nghệ mới tại Điều 14, VCCI kiến nghị cần quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục lập đề án trình Thủ tướng Chính phủ để bảo đảm tính thuận lợi và minh bạch cho các đơn vị khi triển khai thực tế.
End of content
Không có tin nào tiếp theo












