TP Huế tạo đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Nghị quyết 57 mở ra cơ hội bứt phá cho khoa học - công nghệ Hà Nội / Trung tâm dữ liệu tỉnh Thái Nguyên: Nền tảng cho quản trị số
Đây được xác định là trụ cột chiến lược, đóng vai trò then chốt giúp địa phương bứt phá trong giai đoạn phát triển mới, hướng đến xây dựng đô thị thông minh, kinh tế số và xã hội số bền vững.
Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia, TP Huế đã chủ động xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách cụ thể, đồng thời huy động nguồn lực nhằm phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Mục tiêu xuyên suốt là từng bước đưa khoa học công nghệ trở thành động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ.
Ảnh minh hoạ.
Ngay sau khi nghị quyết được ban hành, Thành ủy TP Huế đã triển khai Kế hoạch số 295-KH/TU (30/6/2025) nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ; đồng thời ban hành Kế hoạch 289-KH/TU về chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng giai đoạn 2025 - 2030. Ở cấp chính quyền, UBND thành phố cũng liên tiếp đưa ra các chương trình hành động quan trọng như Kế hoạch 208/KH-UBND, Kế hoạch 209/KH-UBND triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, và Kế hoạch 330/KH-UBND về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035. Việc đồng bộ từ chủ trương đến hành động đã tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình chuyển đổi số và phát triển khoa học công nghệ trên địa bàn.
Để nâng cao hiệu lực quản lý và điều hành, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển KHCN, ĐMST và CĐS, đồng thời kiện toàn tổ chức, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các nhiệm vụ trọng tâm.
Song song với hoàn thiện cơ chế, chính sách, Huế đặc biệt chú trọng đầu tư nguồn lực. Năm 2025, tổng ngân sách dành cho KHCN, ĐMST và CĐS đạt 120,8 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên chiếm 97,4 tỷ đồng và chi đầu tư phát triển đạt 23,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thành phố đã lựa chọn 10 nhiệm vụ ưu tiên để đề xuất Trung ương hỗ trợ với tổng kinh phí khoảng 179,37 tỷ đồng trong giai đoạn 2025 - 2026, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đề xuất bổ sung 50 tỷ đồng cho các nhiệm vụ trọng điểm.
Không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, Huế còn tích cực huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là từ các doanh nghiệp công nghệ. Viettel đã đầu tư 324 trạm 5G với tổng kinh phí dự kiến khoảng 486 tỷ đồng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng số hiện đại, phục vụ phát triển kinh tế số, chính quyền số và đô thị thông minh.
Một trong những điểm sáng nổi bật của Huế là việc phát triển các nền tảng số phục vụ quản trị và đổi mới sáng tạo. Nền tảng Hue-S được xây dựng như một hệ sinh thái số toàn diện, phục vụ người dân, doanh nghiệp và chính quyền, đồng thời tạo lập cơ sở dữ liệu cho đô thị thông minh. Bên cạnh đó, Cổng sáng kiến của thành phố đã công bố hơn 430 sáng kiến và giải pháp, góp phần lan tỏa tinh thần sáng tạo trong cộng đồng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Trong năm 2025, UBND thành phố đã ban hành 17 quyết định công nhận và chuyển giao kết quả nghiên cứu, với tỷ lệ ứng dụng đạt 76%. Đáng chú ý, 100% công nghệ trong các dự án đầu tư đều được thẩm định và đáp ứng yêu cầu, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Mô hình liên kết “3 nhà” giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp tiếp tục được củng cố. Giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận 18 nhiệm vụ KHCN triển khai theo mô hình này, chiếm khoảng 20% tổng số nhiệm vụ, và theo định hướng mới, tỷ lệ này sẽ tăng lên 80% nhằm nâng cao tính ứng dụng và hiệu quả thực tiễn của các đề tài nghiên cứu.
Trong lĩnh vực hợp tác, Huế đang mở rộng kết nối với nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Thành phố đã ký kết hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030, đồng thời phối hợp với Bệnh viện Trung ương Huế để thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế. Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế cũng được tăng cường với các đối tác đến từ châu Âu và Nhật Bản, tiêu biểu như dự án số hóa không gian ngầm 3D trên nền tảng bản đồ số Map4D do Hàn Quốc tài trợ, hay dự án SATREPS về cảnh báo sớm sạt lở đất và lũ bùn đá do Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ.
Những kết quả bước đầu đã phản ánh hiệu quả rõ nét của các chính sách phát triển KHCN tại địa phương. Theo báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2025, Huế đạt tỷ lệ hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KHCN và doanh nghiệp ở mức 34,4%, xếp thứ 3 toàn quốc, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục xác định KHCN, ĐMST và CĐS là động lực phát triển cốt lõi, tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như chuyển đổi số toàn diện trong cơ quan nhà nước, phát triển dữ liệu mở, đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, đồng thời thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ bán dẫn và công nghệ sinh học.
Với quyết tâm chính trị cao cùng sự đồng hành của cộng đồng khoa học và doanh nghiệp, Huế đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa khoa học công nghệ trở thành nền tảng phát triển bền vững. Theo ông Nguyễn Xuân Sơn, năm 2026 sẽ là giai đoạn tăng tốc với nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm tạo nền tảng đột phá, đưa KHCN, ĐMST và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển cốt lõi, góp phần xây dựng Huế trở thành đô thị thông minh, hiện đại và giàu bản sắc.
End of content
Không có tin nào tiếp theo



