Tạo chính sách hỗ trợ cụ thể để dòng vốn đến với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Phó Thủ tướng: 'Không để vướng mắc làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp’ / Doanh nghiệp nhỏ và vừa được ưu tiên vay với lãi suất thấp hơn ít nhất 1%/năm
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), trong đó đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ SME.
Các quy định tại dự thảo hướng tới tháo gỡ những rào cản phát sinh trong thực tiễn thi hành luật hiện hành, nhất là trong tiếp cận thông tin, đào tạo, tư vấn, pháp lý, tín dụng, thuế, kế toán, mặt bằng sản xuất kinh doanh, công nghệ, chuyển đổi số và thị trường; qua đó hình thành nền tảng chính sách thống nhất để SME đủ điều kiện được tiếp cận các chính sách hỗ trợ cơ bản của Nhà nước.
Góp ý vào dự thảo này, trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đã đưa ra một số đề xuất.
Theo VCCI, Điều 5.6 của dự thảo khuyến khích triển khai toàn diện các hoạt động hỗ trợ SME để tạo tác động và kết quả thực chất. Tuy nhiên, các chính sách hiện chủ yếu được thiết kế dưới dạng nhiều chương trình phân tán, doanh nghiệp đăng ký phụ thuộc vào thời điểm và nguồn lực, khiến hiệu quả thụ hưởng chưa cao.
VCCI đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế “hỗ trợ có mục tiêu”, tập trung nguồn lực công vào các đối tượng trọng điểm, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tránh phân tán nguồn lực.

Theo đó, Nhà nước có thể lựa chọn các SME có tiềm năng phát triển bứt phá, như doanh nghiệp có khả năng trở thành doanh nghiệp lớn, hoạt động trong công nghiệp hỗ trợ hoặc công nghệ cao. Các doanh nghiệp được ưu tiên tiếp cận chính sách hỗ trợ chung và các gói hỗ trợ phù hợp với nhu cầu, đồng thời cam kết đạt các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển cụ thể.
Đối với hỗ trợ tiếp cận tín dụng, VCCI cho rằng Điều 8 của dự thảo mới dừng ở việc “khuyến khích” tổ chức tín dụng, tài chính phát triển sản phẩm phù hợp với SME, nhưng chưa có chính sách đòn bẩy cụ thể để điều hướng dòng vốn vào khu vực này.
VCCI đề nghị cân nhắc các chính sách như ưu đãi nguồn vốn tái cấp vốn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc cơ chế tín dụng ưu tiên, ổn định cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và nông nghiệp công nghệ cao.
Theo VCCI, mức giá vốn và thời hạn vay cần đủ để doanh nghiệp dự báo chi phí trong suốt chu kỳ đơn hàng. Việc thẩm định tín dụng nên dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, chất lượng khách hàng, khoản phải thu và lịch sử tuân thủ, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản bất động sản thế chấp.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế định giá và nhận bảo đảm bằng máy móc, thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và khoản phải thu; phát triển tài trợ chuỗi cung ứng và tài trợ theo hợp đồng cho doanh nghiệp nằm trong chuỗi của các tập đoàn lớn.
Về hỗ trợ mặt bằng sản xuất, VCCI đề nghị bỏ quy định tại Điều 10.5, theo đó khu, cụm công nghiệp mới thành lập, không nhận hỗ trợ của Nhà nước nhưng vẫn phải dành không gian cho SME thuê trong 2 năm. Theo VCCI, quy định này có thể ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh và phương án tài chính của chủ đầu tư.
Với quy định hỗ trợ tiền thuê tại Điều 10.6, VCCI đề nghị cho phép chủ đầu tư khu, cụm công nghiệp được khấu trừ khoản tiền Nhà nước hoàn trả vào các nghĩa vụ khác với Nhà nước, như tiền thuế phải nộp. Cách này có thể giảm tình trạng chủ đầu tư phải ứng trước kinh phí trong thời gian chờ ngân sách hoàn trả.
Đối với việc hỗ trợ SME thuê nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng, VCCI đề nghị cân nhắc cho phép tổ chức, doanh nghiệp thuê lại nhà, đất công để cải tạo thành không gian làm việc chung dành cho SME, thay vì để từng SME trực tiếp thuê và phải tự cải tạo những tài sản có thể không phù hợp về diện tích, công năng.
VCCI cũng đề nghị thay quy định UBND cấp tỉnh công khai quỹ đất, diện tích còn trống và nhà, đất công chưa sử dụng định kỳ hàng năm bằng việc cập nhật thông tin ngay sau khi nhận được thông tin về diện tích mặt bằng còn trống, danh mục nhà, đất công chưa sử dụng.
Về chuyển đổi số, VCCI cho rằng các nội dung tại Điều 11.6 mới tập trung vào số hóa dữ liệu, phần mềm kế toán, chưa đáp ứng xu hướng chuyển đổi kép. Do đó, cần bổ sung chi phí trang bị các phần mềm chuyên dụng như phần mềm kiểm kê khí nhà kính, quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý thông tin sản phẩm.
VCCI kiến nghị Nhà nước xây dựng nền tảng dữ liệu sản phẩm quốc gia dùng chung nhằm giảm chi phí tuân thủ cho SME trước các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Nền tảng này có thể hỗ trợ thu thập, quản lý, chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, chuỗi cung ứng và dữ liệu môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế; tạo lập, quản lý hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số; đồng thời kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia, hệ thống chứng nhận xuất xứ điện tử và các hệ thống quản lý xuất nhập khẩu...
End of content
Không có tin nào tiếp theo












