Hỗ trợ doanh nghiệp

Vì sao các quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động chưa đạt kỳ vọng?

DNVN - Dù được kỳ vọng giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn không cần tài sản thế chấp, các Quỹ bảo lãnh tín dụng vẫn chưa phát huy hiệu quả như mong đợi. Theo các chuyên gia, rào cản nằm ở quy mô vốn, cơ chế vận hành và sự thiếu đồng bộ giữa các bên liên quan.

Lâm Đồng: Xã Đam Rông 2 đối thoại doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế địa phương / Hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, bên cạnh xu hướng ngân hàng kiến tạo số, Quỹ bảo lãnh tín dụng được xem là một công cụ hỗ trợ quan trọng.

Theo GS, TS Hoàng Văn Cường – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, DNNVV rất cần cơ chế này, bởi quỹ đóng vai trò đứng ra bảo đảm nghĩa vụ tài chính thay cho doanh nghiệp khi không trả được nợ. Nhờ đó, ngân hàng có thể yên tâm cho vay, đặc biệt với những doanh nghiệp không có tài sản đảm bảo hoặc chưa đủ điều kiện tín chấp.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiệu quả hoạt động của các quỹ vẫn chưa đạt kỳ vọng.

“Chúng ta đã nói nhiều về mô hình này, và bản thân các quỹ cũng mong muốn có đủ nguồn lực để thực hiện tốt vai trò của mình. Ngân hàng cũng kỳ vọng vào công cụ này. Tuy nhiên trên thực tế, hiệu quả vẫn chưa như mong đợi”, ông Cường nêu.

Lý giải nguyên nhân, chuyên gia cho rằng quy mô vốn của các quỹ còn quá nhỏ. Để bảo lãnh hiệu quả, quỹ cần có năng lực tài chính đủ mạnh nhằm tạo niềm tin cho ngân hàng. Tuy nhiên, nguồn lực hiện còn mỏng khiến cả quỹ và ngân hàng đều thận trọng.


GS, TS Hoàng Văn Cường – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động của quỹ vẫn mang tính truyền thống, chưa tận dụng các công cụ tài chính hiện đại. Theo ông Cường, các khoản bảo lãnh hoàn toàn có thể được “chứng khoán hóa”, chuyển nhượng hoặc phân bổ rủi ro cho các tổ chức tài chính khác để mở rộng quy mô.

“Nói cách khác, bảo lãnh tín dụng cần được vận hành theo cơ chế thị trường, thay vì chỉ là một quỹ mang tính hành chính sử dụng nguồn ngân sách cố định. Một quỹ đúng nghĩa phải biết huy động nguồn lực, phân bổ rủi ro và tạo ra giá trị từ các công cụ tài chính”, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh.

Cùng quan điểm, TS Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam (VINASME) nhìn nhận, các quỹ hiện chưa thực sự trở thành “điểm tựa” cho doanh nghiệp.

“Quỹ có tồn tại nhưng chưa thực sự trở thành ‘điểm tựa’ cho DNNVV — trong khi đó lại chính là sứ mệnh của quỹ”, ông Nam nói.

Theo ông, nguyên nhân trước hết là nguồn lực tài chính còn hạn chế, dẫn đến năng lực bảo lãnh yếu. Đồng thời, tâm lý vận hành còn mang tính phòng thủ do lo ngại rủi ro và trách nhiệm.

Một điểm đáng chú ý là cơ chế phối hợp giữa quỹ và ngân hàng chưa thống nhất. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp đã được quỹ bảo lãnh nhưng ngân hàng vẫn thẩm định lại từ đầu, cho thấy sự thiếu đồng bộ.


TS Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam.

Ngoài ra, thủ tục tiếp cận quỹ chưa đơn giản hơn so với ngân hàng, khiến vai trò hỗ trợ chưa được thể hiện rõ. Đặc biệt, sự thiếu niềm tin giữa các bên cũng là rào cản lớn.

“Khi cả ba chủ thể — doanh nghiệp, ngân hàng và quỹ — đều thận trọng, thiếu niềm tin lẫn nhau thì khó có sự phối hợp thông suốt”, ông Nam chia sẻ.

Theo ông Nam, rào cản không chỉ nằm ở nguồn vốn mà chủ yếu ở cơ chế vận hành chưa thực chất, chưa đúng với sứ mệnh của quỹ.

Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, GS, TS Hoàng Văn Cường đề xuất thay đổi phương thức cấp tín dụng, chuyển từ dựa vào tài sản đảm bảo sang dựa trên dòng tiền và dữ liệu.

“Ngân hàng phải ứng dụng công nghệ tài chính để đổi mới phương thức kiểm soát; doanh nghiệp phải chuyển đổi số, nâng cao quản trị; Nhà nước cần xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp”, ông Cường nêu.

Khi hình thành hệ sinh thái dữ liệu, mô hình cho vay sẽ thay đổi, ngân hàng không chỉ là bên cho vay mà trở thành bên cấp vốn gắn với hoạt động kinh doanh thực tế.

Đối với cơ chế bảo lãnh tín dụng, ông Cường nhấn mạnh cần vận hành theo cơ chế thị trường, sử dụng các công cụ như tái bảo lãnh, chuyển nhượng rủi ro và huy động thêm nguồn lực để nâng cao hiệu quả.

Trong khi đó, ông Tô Hoài Nam kiến nghị cần thay đổi tư duy chính sách, không chỉ xét tài sản thế chấp mà phải đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và dữ liệu kinh doanh.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung và tái cấu trúc cơ chế bảo lãnh tín dụng theo hướng thực chất hơn.

“Tôi hy vọng chính sách tín dụng trong thời gian tới sẽ có sự điều chỉnh theo hướng này, để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thêm cơ hội tiếp cận vốn và phát triển”, ông Nam bày tỏ.

Nguyệt Minh
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm