Người bền bỉ giữ rừng ở Liêng Srônh, làm nên hương trầm OCOP
Phó Chủ tịch UBND xã Đam Rông 2: Xây nông thôn mới từ nhận thức và chung sức của người dân / Đam Rông 2 đầu tư hạ tầng, phát triển sản xuất để đạt chuẩn nông thôn mới
Giấc mộng trầm hương trên đất rừng nghèo
Giữa những triền đồi Liêng Srônh, xã Đam Rông 2 (tỉnh Lâm Đồng), những vạt dó bầu hôm nay không chỉ là màu xanh của một vùng nguyên liệu. Đó còn là dấu vết của nhiều năm bám rừng, nhiều lần thất bại và cả sự kiên trì của ông Hoàng Duy Thành – người đã chọn cây dó bầu để bắt đầu một hành trình làm trầm sạch dưới tán rừng.

Ông Hoàng Duy Thành - Công ty Cổ phần Dó bầu hương Quảng Nam, bên rừng gió bầu tại Liêng Srônh.
Từ vùng đất ấy, Công ty Cổ phần Dó bầu hương Quảng Nam dần hình thành các sản phẩm OCOP từ trầm hương. Đằng sau những sản phẩm mang thương hiệu địa phương là câu chuyện dài của một người sinh ra ở xứ trầm Quảng Nam, rồi đem niềm tin ấy gửi vào những triền đồi từng nghèo kiệt của Đam Rông.
Khi đến Liêng Srônh, giữa không gian rừng núi Đam Rông, ông Thành nhận ra khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng và hệ sinh thái nơi đây có thể nuôi dưỡng cây dó bầu. Nhìn thấy cơ hội là một chuyện, đi đến cùng với lựa chọn ấy lại là chuyện khác.
Nhắc lại chặng đường khởi đầu, ông Thành tự nhận mình đã “rất liều lĩnh”. Khi ấy, kinh nghiệm chưa nhiều, lại trồng vào mùa khô nên nhiều diện tích cây vừa xuống giống chưa kịp bén rễ đã héo rũ, chết thành từng đợt. Sau mỗi lần như vậy, tiền giống, tiền công, công chăm sóc và cả niềm tin của tập thể đều bị bào mòn. Với một doanh nghiệp nhỏ ở vùng núi, thất bại không chỉ là thiệt hại kinh tế, mà còn là nỗi day dứt về chuyện tiếp tục bám rừng hay dừng lại.
Ông vẫn chọn ở lại. Sau mỗi đợt cây chết, ông cùng cộng sự lần lại nguyên nhân, từ kỹ thuật trồng, cách giữ ẩm, lượng phân bón lót đến thời điểm xuống giống. Đất nghèo, nước khó, thời tiết thất thường buộc họ phải điều chỉnh từng khâu chăm sóc. Những việc tưởng nhỏ ấy được lặp đi lặp lại qua nhiều mùa cây, như cách một người học lại từ đầu với đất rừng.
Đằng sau màu xanh của những vạt dó bầu hôm nay là quãng thời gian dài không ít lần trắng tay. Có thời điểm, hàng chục ngàn cây xuống giống rồi chết khô. Nguồn vốn huy động từ nhiều nơi nằm lại trên đất. Những triền đồi tưởng đã bắt đầu hồi sinh lại quay về vẻ cằn cỗi. Nhưng trong gian khó, ông Thành và những người cùng làm không buông tay. Họ rà soát từng hố trồng, từng mật độ cây, từng lượng nước tưới, từng lớp phân hữu cơ và từng cách che chắn cho cây non.
Chính những va vấp ấy làm nên cách ông Thành nhìn rừng. Với ông, trồng rừng không thể chỉ là phủ xanh bằng mọi giá. Cây phải sống, đất phải được giữ, hệ sinh thái phải được nuôi dưỡng, sản phẩm cuối cùng phải sạch. Đó cũng là lý do ông không chấp nhận những cách tạo trầm nhanh nhưng lạm dụng hóa chất. Khi chứng kiến việc lột vỏ cây rồi bôi hóa chất để ép cây tiết nhựa, ông thấy không thể đi theo con đường ấy.

Một góc rừng gió bầu của ông Hoàng Duy Thành ở Liêng Srônh.
“Tôi thấy như vậy dã man quá, trầm tạo ra cũng không được sạch”, ông Thành chia sẻ. Câu nói mộc mạc ấy cho thấy điều ông trăn trở không dừng ở giá trị kinh tế của trầm hương. Với ông, làm trầm còn là giữ phẩm chất của rừng. Nếu trầm hương sinh ra từ sự tổn thương của cây, sự tổn thương ấy càng không thể bị khai thác bằng cách thô bạo, tận diệt hoặc đánh đổi môi trường.
Từ suy nghĩ đó, ông tìm tòi phương pháp tạo trầm thân thiện hơn, nghiên cứu vi sinh, chăm sóc rừng dài hạn, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với bảo tồn cây rừng tự nhiên. Ông cho biết chế phẩm vi sinh tạo trầm của doanh nghiệp đã được kiểm nghiệm cho kết quả không có hóa chất độc hại. Đích đến mà ông theo đuổi là tạo ra trầm hương sạch hoàn toàn, để mỗi sản phẩm khi rời khỏi rừng Liêng Srônh vẫn giữ được sự trong lành của vùng nguyên liệu.
Cách ứng xử ấy thể hiện cả trong những việc rất cụ thể. Ông Thành kể, sau khi hoàn tất nghĩa vụ bồi thường tài nguyên rừng và được cho phép khai thác tận thu lâm sản, ông vẫn giữ lại, không khai thác. Khi phát dọn, xử lý thực bì để trồng dó bầu, những cây tái sinh chỉ bằng cổ chân cũng được chừa lại. Rồi trong quá trình chăm sóc rừng, ông phát hiện nhiều mầm xanh thân cứng mọc lên giữa các vạt cây, liền khoanh giữ, nuôi dưỡng.
Mười bảy năm trôi qua, nhiều mầm cây nhỏ ngày ấy đã thành cây lớn, có cây đã cho quả như vải rừng, dẻ, bứa, kơ nia. Ông cũng không cho săn bắn chim thú trong khu vực rừng của doanh nghiệp. Nhờ vậy, chim về làm tổ ngày một nhiều hơn, gà rừng cũng xuất hiện thành đàn. Rừng trong cách làm của ông không phải một kho nguyên liệu để tận thu, mà là một hệ sinh thái cần được chăm nom, bù đắp và trả lại sức sống.
Đến nay, khó khăn vẫn chưa dừng lại. Làm sản phẩm từ rừng đòi hỏi thời gian dài, nguồn vốn bền bỉ, kỹ thuật ổn định và thị trường đủ rộng. Với một doanh nghiệp ở vùng sâu, áp lực còn đến từ chi phí chế biến, nhân lực, bao bì, truy xuất nguồn gốc và kênh tiêu thụ. Trồng được rừng đã khó, biến rừng thành sinh kế bền vững còn là một chặng đường dài hơn.

Nhiều đối tác quốc tế quan tâm, tìm hiểu các dòng trà ô long trầm hương, quy trình tạo trầm và phương pháp tạo trầm vi sinh ông Hoàng Duy Thành. đang phát triển.
Có lúc, điều giữ ông ở lại không chỉ là kỳ vọng vào giá trị của trầm hương. Đó còn là trách nhiệm với vùng đất mình đã chọn. Phía sau mỗi vạt cây là công sức của người lao động địa phương. Phía sau mỗi sản phẩm là mong muốn có thêm việc làm, thêm thu nhập và thêm một hướng phát triển cho vùng nông thôn còn nhiều khó khăn.
Từ tán rừng Liêng Srônh đến sản phẩm OCOP
Trong thời gian chờ cây dó bầu đủ tuổi tạo trầm, ông Thành không để rừng đứng yên chờ ngày khai thác. Ông nhìn vào chính những gì rừng đang có để tìm hướng đi trước mắt. Lá dó bầu, kể cả lá già, được nghiên cứu, chế biến thành nhiều dòng trà trầm. Trà dây mọc dưới tán rừng được thuần dưỡng, phát triển thành nguồn nguyên liệu. Gốc, thân, cành trầm hương sau quá trình chăm sóc, tỉa thưa được tận dụng để làm nhang, nụ trầm và các sản phẩm liên quan.

Bộ sưu tập sản phẩm OCOP của Công ty Cổ phần Dó bầu hương Quảng Nam.
Ông nói, đã gắn bó với một vùng nguyên liệu lớn thì không thể để lãng phí từng cành, từng lá. Phải thử nghiệm, mày mò, thất bại rồi làm lại mới tìm được hướng đi phù hợp. Cách nghĩ ấy cũng là tinh thần của một hành trình OCOP đúng nghĩa. Sản phẩm không chỉ được đưa đi đánh giá, phân hạng, mà phải được chuẩn hóa từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, mẫu mã đến cách tiếp cận thị trường.
Từ những tháng ngày mày mò đó, các sản phẩm mang dấu ấn vùng đất Đam Rông dần hình thành. Trà Trầm Đam Rông HDT gắn với cây dó bầu và hương vị riêng của vùng rừng Liêng Srônh. Trà dây Cao Nguyên HDT kế thừa nguồn dược liệu dưới tán rừng, gần gũi với đời sống và tri thức dân gian của người dân miền núi. Nụ Trầm HDT, Nhang tăm Trầm Hương HDT tiếp tục mở rộng hướng chế biến, nâng giá trị cho nguyên liệu từ trầm hương.
Theo ông Thành, trà trầm của doanh nghiệp đang được phát triển theo nhiều dạng sản phẩm. Một số dòng trà từ lá dó bầu đã ký hợp đồng nguyên tắc cung cấp cho đơn vị ngoài Hà Nội để làm trà túi lọc xuất khẩu. Dòng trà viên dạng ô long cũng đã được xuất khẩu sang Hàn Quốc và được một số đối tác quan tâm. Những tín hiệu thị trường ấy chưa phải đích đến cuối cùng, nhưng cho thấy sản phẩm từ rừng Liêng Srônh đã bắt đầu có cơ hội bước ra ngoài phạm vi địa phương.
Điều ông Thành nhiều lần nhấn mạnh là giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công thức chế biến, mà còn bắt đầu từ vùng đất. Đam Rông 2 có khí hậu mát mẻ, địa hình cao, nguồn nước đầu nguồn và hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú. Những yếu tố ấy tạo nền tảng cho cây dó bầu, trà dây và các sản phẩm từ rừng phát triển theo hướng riêng. Nguồn nước, khí hậu và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường cũng là điều ông tin làm nên giá trị của trà trầm hương Đam Rông.
Trong chuỗi xây dựng nông thôn mới ở xã Đam Rông 2, mô hình của Công ty Cổ phần Dó bầu hương Quảng Nam gợi mở một hướng đi đáng chú ý. Nông thôn mới không chỉ hiện diện ở đường sá, trường học, nhà văn hóa hay hạ tầng thiết yếu. Nông thôn mới còn được nhìn từ năng lực tổ chức sản xuất, từ cách người dân và doanh nghiệp khai thác lợi thế bản địa, tạo sinh kế và giữ được môi trường sống.
Ở Liêng Srônh, phát triển kinh tế dưới tán rừng không còn là ý tưởng xa lạ. Người lao động địa phương có thể tham gia trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế và đóng gói. Cây rừng không chỉ để phủ xanh, mà còn tạo nguyên liệu. Sản phẩm OCOP không chỉ là hàng hóa, mà còn mang theo dấu ấn của đất, nước, khí hậu, con người và sự bền bỉ.
Không chỉ dừng ở phạm vi doanh nghiệp, cách làm ấy còn lan dần sang một số hộ dân. Khoảng ba năm gần đây, theo ông Thành, một số hộ ở Phi Liêng và Đạ K’Nàng đã trồng cây dó bầu sau khi được ông khuyến khích, vận động. Dù quy mô chưa lớn, đây là tín hiệu đáng chú ý bởi giữ rừng, làm kinh tế dưới tán rừng chỉ bền vững khi người dân địa phương nhìn thấy cơ hội tham gia và hưởng lợi.

Các chuyên gia trong và ngoài nước đã đến khảo sát, nghiên cứu và đánh giá cao tiềm năng phát triển tín chỉ carbon từ rừng trồng của Công ty Cổ phần Dó bầu hương Quảng Nam.
Dẫu vậy, phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm. Muốn đi xa hơn, sản phẩm cần tiếp tục được đầu tư về chất lượng, mẫu mã, nhận diện thương hiệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và kênh tiêu thụ. Muốn mở rộng sản xuất, doanh nghiệp cần vốn, máy móc, nhân lực và sự kết nối thị trường ổn định hơn. Ông Thành cho biết doanh nghiệp đang lựa chọn đối tác phù hợp để đặt nhà máy chưng cất tinh dầu trầm hương, đồng thời tính đến hướng phát triển du lịch canh nông, du lịch sinh thái dưới tán rừng.
Những dự định ấy mở ra kỳ vọng mới, nhưng cũng đặt ra yêu cầu khắt khe hơn trong cách ứng xử với rừng. Nếu làm không khéo, rừng dễ bị nhìn như một nguồn tài nguyên để khai thác. Nếu làm bài bản, rừng có thể trở thành không gian sinh kế, trải nghiệm và gìn giữ giá trị bản địa. Với ông Thành, hướng đi ấy chỉ có ý nghĩa khi giữ được nguyên tắc ban đầu: sản phẩm phải sạch, cây phải sống, rừng phải xanh hơn và người dân quanh rừng có thêm cơ hội mưu sinh.
End of content
Không có tin nào tiếp theo







