Tổng giá trị top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam chưa bằng một nửa giá trị Samsung
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, mở tín dụng cho SME / Chủ động quản trị rủi ro trước sức ép phòng vệ thương mại
Thương hiệu doanh nghiệp còn khoảng trống lớn
Tại diễn đàn “Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh” ngày 23/9 tại Hà Nội, ông Trần Lê Hồng - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, thương hiệu quốc gia Việt Nam được định giá 507 tỷ USD năm 2024, xếp thứ 32/193 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu. Trong khi đó, tổng giá trị Top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam khoảng 38,4 tỷ USD năm 2025 và 43 tỷ USD năm 2026.
"Những con số này cho thấy thương hiệu quốc gia Việt Nam đang tăng nhanh, nhưng giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp vẫn còn khoảng cách đáng kể", ông Hồng nhìn nhận.
Tổng giá trị Top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chưa bằng một nửa giá trị thương hiệu Samsung. Điều này đặt ra yêu cầu phải tạo thêm nhiều doanh nghiệp có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và sở hữu thương hiệu đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cùng góc nhìn, Đại sứ Vũ Quang Minh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao chia sẻ, hiện nay, khi nói đến Việt Nam, nhiều người thường nhớ đến các địa danh, điểm du lịch nổi tiếng, ẩm thực, tinh thần học hỏi và năng lực của người lao động. Gần đây, bạn bè quốc tế cũng ấn tượng với tinh thần tự hào dân tộc của người Việt, thể hiện qua các hoạt động kỷ niệm A50, A80.

Tuy nhiên, ở góc độ thứ hai là xây dựng thương hiệu thông qua tên tuổi các doanh nghiệp Việt để thị trường thế giới nhận diện, sự hiện diện này vẫn còn khá hạn chế.
Trong quá trình công tác, một trong những vấn đề các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thường quan tâm là có doanh nghiệp Việt Nam nào có thể đồng hành, tài trợ cho các hoạt động đối ngoại tại địa bàn.
Ở một số nơi như Campuchia, Việt Nam có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp như Viettel, Metfone, Vietnam Airlines, Vietjet, Trung Nguyên... Nhưng tại nhiều thị trường khác, các cơ quan đại diện Việt Nam gần như không có doanh nghiệp trong nước để kết nối, đồng hành.
Đại sứ Quang Minh dẫn một số thương hiệu Việt đã tạo được dấu ấn ở nước ngoài như Viettel, FPT, VinFast, Vietnam Airlines, Vietjet, Vinamilk, Trung Nguyên, Masan, Vifon, Biti's, Minh Long, Hòa Phát, Hoa Sen và Vĩnh Hoàn.
Tuy nhiên, theo ông, số lượng doanh nghiệp Việt Nam có thương hiệu và hiện diện trực tiếp tại các thị trường quốc tế vẫn chưa nhiều. Đặc biệt, Việt Nam có thế mạnh lớn về sản xuất, gia công giày dép nhưng thương hiệu giày dép Việt Nam hiện diện tại nước ngoài còn hạn chế.
Muốn thoát gia công, phải hiện diện ở thị trường quốc tế
Từ góc độ chính sách, ông Hồng đề xuất đưa mục tiêu chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP vào năm 2030 theo đúng cấu trúc nguồn vốn. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu hơn 60% nguồn chi R&D đến từ xã hội, đồng thời yêu cầu bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ.
Chính sách ưu đãi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần chuyển trọng tâm từ thu hút sang tăng cường liên kết, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ thực chất và hoạt động R&D tại chỗ đối với các dự án được hưởng ưu đãi cao nhất.

Ngoài ra, cần xây dựng năng lực hấp thụ trước khi kỳ vọng đổi mới đột phá; coi hệ thống sở hữu trí tuệ là hạ tầng kinh tế thay vì chỉ là thủ tục hành chính; phát triển các dấu hiệu chất lượng tập thể cho nông sản; đồng thời chấp nhận độ trễ và duy trì tính liên tục của chính sách.
Nhìn từ yêu cầu nâng giá trị thương hiệu doanh nghiệp, câu chuyện không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp có một sản phẩm tốt hay một tên tuổi được nhận biết trong nước, mà còn ở khả năng đưa thương hiệu đó ra thị trường quốc tế.
Trong khi đó, Đại sứ Quang Minh nhấn mạnh, nếu không xây dựng thương hiệu để đưa doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, Việt Nam sẽ khó thoát khỏi vị trí gia công và tiếp tục chỉ giữ lại một phần giá trị thấp trong chuỗi.
Ông dẫn thực tế khi Chính phủ giao Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thúc đẩy thị trường cho các sản phẩm Việt Nam, đặc biệt là giày dép và dệt may. Tuy nhiên, các cơ quan đại diện gặp khó khăn bởi sản phẩm Việt Nam chủ yếu được sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài. Các khâu marketing, thiết kế sản phẩm, phân phối và chiến lược thị trường đều do doanh nghiệp FDI quản lý.
Vì vậy, dù sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam, những nỗ lực xúc tiến thương mại cũng khó trực tiếp tạo dựng thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế.
Theo Đại sứ Quang Minh, Việt Nam cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhận thấy xây dựng thương hiệu mang lại lợi ích lớn hơn so với chỉ gia công và bán sản phẩm thô. Chỉ khi có thương hiệu và hiện diện trực tiếp tại thị trường, doanh nghiệp mới có thể nâng vị thế và giữ lại nhiều giá trị hơn.
Việt Nam có hai cách để tăng cường sự hiện diện tại thị trường quốc tế, gồm đầu tư ra nước ngoài và đẩy mạnh thương mại thông qua các kênh phân phối chính thức.
Hiện nay, một phần lớn sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tại nước ngoài vẫn được phân phối thông qua mạng lưới siêu thị của người Việt và các chợ châu Á, thay vì đi vào hệ thống phân phối lớn của các tập đoàn quốc tế. Đây là lĩnh vực cần được đầu tư mạnh hơn, dù chi phí xây dựng và phát triển hệ thống phân phối rất lớn.
Ở góc độ cơ quan quản lý, bà Hà Kiều Oanh – Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực Xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, doanh nghiệp không chỉ cần đưa sản phẩm đến người mua mà còn phải chứng minh chất lượng, khả năng đổi mới, năng lực đáp ứng thị trường và độ tin cậy trong cung ứng.
Do đó, thương hiệu không thể tách rời năng lực quản trị, công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng tổ chức thị trường. Đổi mới sáng tạo phải đi vào sản phẩm và quy trình; chuyển đổi số phải hỗ trợ quản trị, tiếp cận thị trường và ra quyết định dựa trên dữ liệu; chất lượng phải được duy trì bằng hệ thống quản trị.
“Nhà nước cần tổ chức các chương trình nâng cao năng lực, kết nối nguồn lực và thúc đẩy quảng bá. Trong khi đó, doanh nghiệp phải là chủ thể trực tiếp đầu tư cho chất lượng, công nghệ và quản trị thương hiệu. Thương hiệu quốc gia không thể thay thế thương hiệu doanh nghiệp. Hai cấp độ này cần hỗ trợ và củng cố lẫn nhau,” bà Oanh chia sẻ.
End of content
Không có tin nào tiếp theo












