Hỗ trợ doanh nghiệp

ESG: Khi dữ liệu trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi

DNVN – Khi ESG chuyển từ cam kết sang triển khai thực tế, năng lực của doanh nghiệp không còn chỉ được đánh giá qua sản lượng mà còn thể hiện ở khả năng quản trị dữ liệu và tổ chức sản xuất theo các chuẩn mực mới.

Doanh nghiệp được định giá cao hơn 20% nhờ thực hành ESG / Doanh nghiệp muốn đi xa phải 'làm thật' ESG

Minh bạch dữ liệu trở thành “giấy thông hành” mới

Chia sẻ tại hội thảo “Từ chiến lược ESG đến vị thế tiên phong trong sản xuất bền vững: Lộ trình thực tiễn cho các doanh nghiệp” diễn ra chiều 31/3 tại TP Hồ Chí Minh, các chuyên gia cho rằng, cách thị trường toàn cầu đánh giá doanh nghiệp đang thay đổi rõ rệt, từ năng lực sản xuất sang năng lực minh bạch dữ liệu phát thải.

Các chuyên gia, doanh nghiệp chia sẻ, trao đổi tại hội thảo.Các chuyên gia, doanh nghiệp chia sẻ, trao đổi tại hội thảo.

Ông Hồ Ngọc Thiên Khải - Quản lý quan hệ khách hàng chiến lược Công ty LRQA Việt Nam - cho biết, trong bối cảnh các quy định như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu đi vào thực thi, doanh nghiệp không chỉ cần “có dữ liệu”, mà phải có dữ liệu đủ độ tin cậy để có thể kiểm chứng.

Việc đo lường và báo cáo phát thải không còn là hoạt động nội bộ, mà trở thành một phần trong chuỗi kiểm soát rủi ro toàn cầu, gắn với yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Theo đó, các doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng nhiều lớp tiêu chuẩn: từ chất lượng sản phẩm, trách nhiệm xã hội, đến hiệu suất môi trường và quản trị rủi ro. ESG vì vậy không còn là một “bộ tiêu chí rời rạc”, mà là hệ thống tích hợp, nơi mọi dữ liệu đều cần được kết nối và kiểm chứng.

Ở góc độ công nghệ, ông TJ Yoon - Giám đốc Kinh doanh toàn cầu Công ty Glassdome - cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở việc dữ liệu phát thải đang bị phân tán và thiếu tính đồng nhất giữa các hệ thống. Trong khi đó, yêu cầu từ các tập đoàn toàn cầu lại đòi hỏi khả năng tổng hợp dữ liệu theo thời gian thực, từ thiết bị sản xuất đến hệ thống quản trị doanh nghiệp.

Giải pháp được đưa ra là các nền tảng số có khả năng tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tự động hóa quá trình tính toán dấu chân carbon và chuẩn hóa báo cáo theo các tiêu chuẩn quốc tế. Những hệ thống này cho phép doanh nghiệp chuyển từ cách làm thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu, giảm thiểu sai lệch và nâng cao tính minh bạch.

“Dữ liệu phát thải sẽ trở thành ngôn ngữ chung của chuỗi cung ứng toàn cầu”, một chuyên gia tại hội thảo nhận định và nhấn mạnh rằng doanh nghiệp nào không làm chủ được dữ liệu, doanh nghiệp đó sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

Không chỉ dừng lại ở yêu cầu tuân thủ, việc minh bạch dữ liệu còn mở ra lợi thế cạnh tranh mới. Các doanh nghiệp có khả năng chứng minh hiệu quả giảm phát thải sẽ dễ dàng tiếp cận các đơn hàng giá trị cao, đồng thời có cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư xanh đang gia tăng trên toàn cầu.

Từ mô hình tuyến tính đến hệ sinh thái sản xuất bền vững

Tại hội thảo, bên cạnh câu chuyện dữ liệu, các chuyên gia cũng chỉ ra một chuyển dịch mang tính cấu trúc trong mô hình sản xuất: từ tuyến tính sang tuần hoàn.

Bà Nguyễn Mai Hạnh - Quản lý đối ngoại cấp cao tại Việt Nam của Tập đoàn Syre Impact AB (Thụy Điển), cho biết - ngành dệt may - một trong những ngành xuất khẩu chủ lực hiện đang đối mặt áp lực rất lớn khi chiếm tới khoảng 10% tổng lượng phát thải CO₂ toàn cầu, trong khi tỷ lệ sợi tái chế vẫn ở mức rất thấp. Phần lớn chất thải dệt may vẫn bị chôn lấp hoặc đốt bỏ, tạo ra áp lực môi trường ngày càng lớn.

Công ty cổ phần Becamex Bình Định ký kết biên bản ghi nhớ với Công ty Cổ phần Houselink và Công ty Glassdome để hỗ trợ các nhà đầu tư tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản trị ESG.Công ty cổ phần Becamex Bình Định ký kết biên bản ghi nhớ với Công ty Cổ phần Houselink và Công ty Glassdome để hỗ trợ các nhà đầu tư tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản trị ESG.

Trong khi đó, các quy định mới từ châu Âu đang buộc ngành này phải chuyển sang mô hình sản xuất tuần hoàn, trong đó sản phẩm phải có khả năng tái chế, kéo dài vòng đời và giảm thiểu tác động môi trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ thay đổi công nghệ, mà còn tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị, từ thiết kế sản phẩm đến xử lý sau tiêu dùng.

Theo các chuyên gia, mô hình tuyến tính “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ” đã không còn phù hợp. Thay vào đó, doanh nghiệp phải hướng tới hệ sinh thái sản xuất khép kín, nơi vật liệu được tái sử dụng và giá trị được duy trì ở mức cao nhất.

Ở cấp độ hạ tầng, TS Lý Duy Khiêm – Giám đốc Trung tâm Điều hành thông minh Tập đoàn Becamex – cho rằng các khu công nghiệp sẽ đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi này. Không chỉ cung cấp mặt bằng sản xuất, khu công nghiệp cần trở thành một hệ sinh thái tích hợp, nơi năng lượng, nước, chất thải và dữ liệu được quản lý đồng bộ.

Theo TS Khiêm, trong bối cảnh mới, tiêu chuẩn của nhà đầu tư FDI cũng đã thay đổi: hạ tầng khu công nghiệp không chỉ dừng ở điện, nước, giao thông, mà phải đáp ứng các yêu cầu về ESG và chuyển đổi số. Điều này khiến phát triển khu công nghiệp xanh trở thành điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Lê Thị Như Ý - Phó phòng Quản lý hệ thống kiêm Phó Ban ESG - Công ty Cổ phần Kết cấu thép ATAD, chia sẻ hành trình chuyển đổi ESG không bắt đầu từ xu hướng, mà từ áp lực thực tế của thị trường. Khi hơn một nửa thị trường của doanh nghiệp nằm ở nước ngoài, các yêu cầu về minh bạch phát thải, tiêu chuẩn an toàn và trách nhiệm xã hội trở thành điều kiện bắt buộc trong các hợp đồng.

Do đó, ESG được tích hợp trực tiếp vào hệ thống quản trị, từ đánh giá nhà cung cấp, kiểm soát chuỗi cung ứng đến vận hành sản xuất. Việc đạt các chứng chỉ như LEED Platinum không chỉ là yếu tố thương hiệu, mà là minh chứng cho năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng thừa nhận quá trình chuyển đổi không hề dễ dàng. Những rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là chi phí đầu tư ban đầu, thiếu nguồn dữ liệu đáng tin cậy và khó khăn trong việc tích hợp các tiêu chuẩn mới vào hệ thống sản xuất hiện hữu.

Theo các chuyên gia, chìa khóa của quá trình này không nằm ở từng doanh nghiệp riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp của toàn bộ hệ sinh thái, bao gồm khu công nghiệp, nhà cung cấp công nghệ, tổ chức tư vấn và các chính sách hỗ trợ.

Viên Hữu
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm