Hỗ trợ doanh nghiệp

Ngành gỗ cần chuyển từ tư duy 'làm nhiều lợi ít' sang 'làm tinh, giá trị cao'

DNVN - Kim ngạch xuất khẩu gỗ tiếp tục tăng trưởng nhưng để chinh phục mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030, doanh nghiệp cho rằng điều quan trọng không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn phải xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, có chứng chỉ bền vững và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường xuất khẩu.

Xây dựng năng lực quản trị để vốn chủ động tìm đến doanh nghiệp / Tăng liên kết, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ

Yêu cầu cấp thiết về nguồn nguyên liệu bền vững

Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực với kim ngạch hơn 17 tỷ USD năm 2025 và khoảng 8,6 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và hướng tới mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030, bài toán về nguồn nguyên liệu hợp pháp, bền vững và nâng cao giá trị chế biến đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

"Ngành gỗ không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào nguồn nguyên liệu ngắn hạn hay phụ thuộc vào nhập khẩu. Việc chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, chủ động nguồn nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu quả trên mỗi héc-ta rừng sẽ quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới liên tục thay đổi", ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhấn mạnh tại diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" diễn ra chiều 23/7 tại Hà Nội.

Theo ông Nghĩa, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không chỉ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu mà còn giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm chế biến sâu. Muốn làm được điều này cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và người trồng rừng, trong đó chính sách đóng vai trò kiến tạo, còn doanh nghiệp là chủ thể thực hiện.


Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức theo sự chỉ đạo của VCCI.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, ngành gỗ Việt Nam cần chuyển từ tư duy "đủ nguyên liệu để sản xuất" sang "nguyên liệu phải hợp pháp, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững"; từ mục tiêu "xuất khẩu nhiều" sang "xuất khẩu giá trị".

Các quy định mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cùng các tiêu chuẩn từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đang thiết lập một mặt bằng yêu cầu hoàn toàn mới. Thách thức lớn nhất hiện nay không phải thiếu thị trường mà là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.

Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cũng chỉ ra hàng loạt điểm nghẽn của ngành như rừng trồng vẫn chủ yếu là gỗ nhỏ, tỷ lệ diện tích rừng có chứng chỉ quản lý bền vững còn thấp, dữ liệu vùng nguyên liệu chưa được số hóa đầy đủ, liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Bên cạnh đó, tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng, công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn ở mức trung bình và Việt Nam vẫn xuất khẩu nhiều nguyên liệu giá trị thấp.

Theo ông Diện, nguồn nguyên liệu trong tương lai cần đáp ứng đồng thời năm tiêu chí gồm hợp pháp, truy xuất được nguồn gốc, không gây mất rừng, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và phát thải carbon thấp. Đây sẽ là nền tảng để ngành gỗ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi có vùng nguyên liệu ổn định

Nhấn mạnh vai trò của công nghệ, TS Nguyễn Đức Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng cho biết doanh nghiệp FDI tuy không nhiều nhưng đang chiếm khoảng 46% tổng kim ngạch xuất khẩu nhờ lợi thế về công nghệ, vốn và hệ thống phân phối. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia gia công, dù có tỷ lệ nội địa hóa khá cao.


TS Nguyễn Đức Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng.

Theo ông, nguyên liệu của ngành hiện chủ yếu là gỗ rừng trồng như keo, cao su, bạch đàn - những loại gỗ còn hạn chế về độ bền và chất lượng. Việc ứng dụng công nghệ xử lý, biến tính gỗ và phát triển vật liệu gỗ kỹ thuật sẽ giúp nâng cao giá trị nguyên liệu đầu vào, giảm phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trong nước.

"Công nghệ không thể thay thế được bàn tay con người nhưng sẽ nhân giá trị của người lao động lên nhiều lần. Ngành gỗ cần chuyển từ tư duy 'làm nhiều lợi ít' sang 'làm tinh, giá trị cao'. Đây là con đường để đạt mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030", ông Thành nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, đầu tư công nghệ chỉ là một nửa lời giải. Để các dây chuyền hiện đại phát huy hiệu quả và tạo ra giá trị gia tăng cao, điều kiện tiên quyết vẫn là nguồn nguyên liệu ổn định, bền vững và có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Chia sẻ từ thực tiễn sản xuất, bà Diêm Thị Luyến - Quản lý phát triển kinh doanh Công ty CP TEKCOM cho rằng đầu tư công nghệ không đơn thuần là mua sắm máy móc mà là đầu tư cho năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh lâu dài. Tự động hóa giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng ổn định hơn, giảm tỷ lệ lỗi, tối ưu nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng và chi phí sản xuất, đồng thời đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Song, từ thực tế hoạt động, doanh nghiệp nhận thấy một nhà máy hiện đại sẽ không thể phát huy hết hiệu quả nếu thiếu nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững. Một dây chuyền sản xuất chỉ mất một đến hai năm để đầu tư, nhưng để hình thành một vùng nguyên liệu gỗ lớn đạt chứng chỉ bền vững phải mất nhiều năm. Khi nguồn cung nguyên liệu thiếu ổn định, doanh nghiệp rất khó xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn, phát triển các sản phẩm chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ thực tiễn đó, TEKCOM kiến nghị ba nhóm giải pháp. Thứ nhất, tiếp tục có chính sách khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, nâng cao diện tích rừng được quản lý bền vững và đạt các chứng chỉ quốc tế nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định cho chế biến sâu.

Thứ hai, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi phục vụ đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh số hóa dữ liệu, truy xuất nguồn gốc vùng khai thác để đáp ứng yêu cầu của thị trường châu Âu.

Thứ ba, tăng cường liên kết giữa người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến, các viện nghiên cứu và cơ quan quản lý nhằm hình thành chuỗi giá trị khép kín, qua đó nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững cho toàn ngành.

Nguyệt Minh
 

End of content

Không có tin nào tiếp theo

Có thể bạn quan tâm